Để đảm bảo khoản nợ trên, ông C, bà P và Ngân hàng V – Chi nhánh Nam Bình Dương ký kết hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016, tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số 51F-408.85 do Phòng CSGT-ĐS Công an Thành phố i MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU UU FFTT SSuu aann i iCC HHoo UU FFTT SSuu aann i iCC HHoo UU FFTT SSuu aann i iCC HHoo CHƯƠNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỦY HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.1 Hợp đồng thương mại quốc tế 1.1.1 Khái niệm 1.1.2 Đặc điểm 1.1.3 Phân loại hợp đồng thương mại Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ gìn an ninh trật tự xã hội. Bài tiểu luận đã nghiên cứu Bản án 68/2020/DS Tóm tắt Bản án số 01/2022/KDTM-ST ngày 11/03/2022 Về tranh chấp hợp đồng xây d Bài viết Thủ tục pháp luật Hướng dẫn sử dụng Xếp hạng Hỏi đáp pháp luật Bạn muốn truy cập vào Dash board của công ty nào ? i MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU UU FFTT SSuu aann i iCC HHoo UU FFTT SSuu aann i iCC HHoo UU FFTT SSuu aann i iCC HHoo CHƯƠNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỦY HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.1 Hợp đồng thương mại quốc tế 1.1.1 Khái niệm 1.1.2 Đặc điểm 1.1.3 Phân loại hợp đồng thương mại quốc tế 10 1.2 Hủy hợp đồng thương Vay Tiền Online Chuyển Khoản Ngay. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNHBẢN ÁN 11/2022/DS-ST NGÀY 29/09/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNGNgày 29 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2022/TLST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2022/QĐST-DS ngày 19 tháng 9 năm 2022 giữa- Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S;Địa chỉ Lầu x, xyz - ABC Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường S, Quận D, Thành phố Hồ Chí đại diện theo pháp luật Bà Nguyễn Đức Thạch Đ, chức vụ Tổng Giám đại diện theo ủy quyền Ông Nguyễn Đăng D, chức vụ Giám đốc Ngân hàng TMCP S chi nhánh Thái Bình theo quyết định v/v ủy quyền ký hợp đồng, thỏa thuận, văn bản và tham gia tố tụng số 3161/2021/QĐ-PL ngày 27/12/2021.Người được ủy quyền lại Ông Phan Thanh L, chức vụ Chuyên viên kiểm soát rủi ro Ngân hàng TMCP S chi nhánh Thái Bình; địa chỉ Số K Trần Thái Tông, tổ V, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình theo giấy ủy quyền số 02/2022/GUQ-CNTB ngày 31 tháng 5 năm 2022.- Bị đơn Chị Lưu Thị Vân H, sinh năm 1981; địa chỉ Thôn Th, xã Th, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.Ông L có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị H vắng mặt.NỘI DUNG VỤ ÁN* Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 5 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bàyNgày 05 tháng 8 năm 2022, chị Lưu Thị Vân H có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S sau đây gọi tắt là Ngân hàng - Chi nhánh Thái Bình Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng - được gọi chung là Hợp đồng. Căn cứ thu nhập của chị H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, ngày chốt thông báo giao dịch là ngày 22 hàng tháng. Lãi suất trong hạn tại thời điểm làm thẻ là 2,6%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn, lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau. Theo Hợp đồng, chị H phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 25 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị H đã thực hiện giao dịch rút tiền mặt tại máy ATM với tổng số tiền là quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 22 tháng 10 năm 2021, chị H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền đồng. Số tiền đồng được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, cụ thể như sau “Điều 21. Thứ tự ưu tiên thanh toán Trừ trường hợp Sacombank có quy định khác, việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như saua Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước; b Giao Dịch Rút Tiền Mặt/tương đương Rút Tiền Mặt của kỳ trước; c Giao Dịch Mua Hàng Hóa/Thanh Toán Thẻ Trực Tuyến của kỳ trước; d Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ; e Giao Dịch Rút Tiền Mặt/tương đương Rút Tiền Mặt trong kỳ; f Giao Dịch Mua Hàng Hóa/Thanh Toán Thẻ Trực Tuyến trong kỳ”. Từ ngày 22 tháng 01 năm 2022 đến nay, chị H không thanh toán cho Ngân hàng bất cứ khoản tiền nào khác. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng chị H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do chị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên theo quy định của Ngân hàng sau 3 kỳ thông báo giao dịch liên tiếp, chị H không thực hiện việc trả nợ thì Ngân hàng sẽ chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá vậy, từ ngày 22 tháng 01 năm 2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ chị H còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 29 tháng 9 năm 2022, chị H còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là đồng nợ phát sinh đầu kỳ 22 tháng 01 năm 2022 + giao dịch + phí trễ hạn + lãi + phí - thanh toán và nợ lãi quá hạn tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc đồng với lãi suất quá hạn là 3,9%/1 tháng 2,6%*150% từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ chị H còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến ngày chị H thanh toán tiếp theo và lãi tiếp tục phát sinh trên dư nợ gốc còn tiền nợ lãi quá hạn đồng yêu cầu chị H thanh toán cho Ngân hàng bao gồm tiền lãi từ ngày 22/01/2022 đến ngày 29/9/2022, có công thức tính như sau Lãi 1 ngày là đồng x 3,9%/30 = đồng. Từ ngày 22/01/2022 đến ngày 22/02/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/02/2022 đến ngày 22/03/2022 có 28 ngày với số tiền lãi là x 28 = đồng. Từ ngày 22/03/2022 đến ngày 22/04/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/04/2022 đến ngày 22/05/2022 có 30 ngày với số tiền lãi là x 30 = đồng. Từ ngày 22/05/2022 đến ngày 22/06/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/06/2022 đến ngày 21/07/2022 có 29 ngày với số tiền lãi là x 29 = đồng. Từ ngày 22/07/2022 đến ngày 22/08/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/08/2022 đến ngày 22/09/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/09/2022 đến ngày 29/09/2022 có 7 ngày với số tiền lãi là x 7 = đồng.Đến nay Ngân hàng đề nghị Toà giải quyết Buộcc chị H phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 29 tháng 9 năm 2022 là đồng trong đó nợ gốc là đồng, lãi quá hạn là đồng. Chị H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày xét xử cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.* Chị Lưu Thị Vân H đã được Tòa án triệu tập để trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa, nhưng chị H đều vắng mặt không lý do. Vì vậy chị H không thể hiện quan điểm của mình trong vụ án.* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 119, Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 16 Điều 4; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc chị H phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền đồng trong đó nợ gốc là đồng, lãi quá hạn là đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, chị Lưu Thị Vân H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng. Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp ĐỊNH CỦA TÒA ÁNSau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định[1] Về quan hệ tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền giải quyết Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu chị Lưu Thị Vân H trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, chị Lưu Thị Vân H cư trú tại xã Th, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Căn cứ quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.[2] Về thủ tục tố tụng Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.[3] Nội dung[ Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy Thỏa thuận của Ngân hàng và chị H trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng ngày 05 tháng 8 năm 2020 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung hợp đồng không trái đạo đức xã hội, thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định tại Điều 116, Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên xác định Hợp đồng là hợp pháp.[ Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền đồng. Theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng vào ngày 22 hàng tháng, chị H phải thanh toán nợ cho Ngân hàng nhưng đến ngày 22 tháng 01 năm 2022 chị H mới thanh toán cho Ngân hàng được số tiền đồng. Từ ngày 22/01/2022 đến nay chị H không trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc, lãi theo thỏa thuận. Do chị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định của Ngân hàng trong 3 kỳ thông báo giao dịch liên tiếp 22/11/2021;22/12/2021; 22/01/2022 nên Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn tính từ ngày 22/01/2022 với mức lãi suất các bên thỏa thuận bằng 150% mức lãi trong hạn. Chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự; vi phạm Điều 19, Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Điều 24 quy định “Việc không thanh toán ít nhất Số Tiền Tối Thiểu của Chủ Thẻ cho đến kỳ TBGD tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp Đồng. Khi vi phạm xảy ra, Chủ Thẻ hiểu và đồng ý rằng Sacombank có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau Tạm ngưng hoặc Chấm Dứt sử dụng Thẻ và thu hồi toàn bộ Dư Nợ; Áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của Sacombank. Sau 75 ngày kể từ ngày lập TBGD hoặc sau 03 ba kỳ TBGD liên tiếp, nếu Chủ Thẻ không thanh toán hoặc thanh toán ít hơn Số Tiền Tối Thiểu, Sacombank sẽ chấm dứt việc sử dụng thẻ của Chủ Thẻ”.[ Về số tiền gốc và lãi theo yêu cầu của Ngân hàng phù hợp với Điều 19; Điều 23 và Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng “ Chủ thẻ phải thanh toán cho Sacombank số tiền đến hạn hoặc số tiền tối thiểu vào hoặc trước ngày đến hạn được ghi trên thông báo giao dịch”; chi tiết Điều 23 quy định “Cách tính lãi Chủ thẻ đồng ý thanh toán lãi phát sinh trên thẻ. Lãi được tính như sau a Đối với giao dịch mua hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến không áp dụng với thẻ nội địa, phí, lệ phí Nếu chủ thẻ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ Số Tiền Đến Hạn vào hoặc trước ngày đến hạn, chủ thẻ phải thanh toán lãi cho Sacombank đối với tất cả các khoản nợ được thể hiện trong Thông báo giao dịch hiện tại và đối với bất kỳ khoản nợ nào phát sinh sau đó trên Thẻ cho đến khi toàn bộ các khoản nợ đến hạn ghi trong TBGD mới nhất được thanh toán vào hoặc trước ngày đến hạn. Lãi được tính từ ngày giao dịch cho đến hết ngày việc thanh toán được thực hiện đầy đủ. Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số tiền đến hạn vào hoặc trước ngày đến hạn theo TBGD thì chủ thẻ được miễn lãi đối với tất cả các giao dịch tại TBGD hiện tại. Giao dịch rút tiền mặt/tương đương rút tiền mặt Lãi được tính từ ngày chủ thẻ thực hiện giao dịch cho đế hết ngày chủ thẻ thanh toán toàn bộ số tiền đã sử dụng/đã rút. Sacombank có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ theo quyết định của mình mà không cần thông báo trước cho chủ thẻ”. Do vậy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc chị H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền gốc là đồng, lãi quá hạn là đồng; tổng cộng là đồng và chị H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày xét xử cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 và các Điều 7, 8, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.[ Về án phí dân sự sơ thẩm Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNHCăn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 117, 119, 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S Buộc chị Lưu Thị Vân H phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng ngày 05/8/2020 số tiền là Nợ gốc là đồng, nợ lãi quá hạn tính đến ngày 29/9/2022 là đồng, tổng cộng đồng Ba mươi triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm bốn mươi hai đồng.Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm chị Lưu Thị Vân H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này cho Ngân hàng. Lãi suất mà chị Lưu Thị Vân H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần S.[2] Về án phí Buộc chị Lưu Thị Vân H phải nộp Một triệu năm trăm mười ba nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001259 ngày 25 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.[3] Về quyền kháng cáo Ngân hàng thương mại cổ phần S, chị Lưu Thị Vân H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân Sau đây Equity Law Firm xin được tư vấn về nội dung sau VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG Do tính chất bảo mật thông tin vụ án nên toàn bộ Thông tin cá nhân, Tên địa phương, Tên cơ quan hành chính đã được mã hóa I. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN * Nội dung Ngân hàng TM TNHH MTV Đông Dương Nguyên Đơn trình bày Ngày 26/04/2014, Công ty TNHH Ansaka “Công ty Ansaka” và Ngân hàng TM TNHH MTV Đông Dương “Dongduong Bank” ký với nhau Hợp đồng tín dụng số 0008/2014/ ký ngày 26/2/2214, theo đó Công ty Ansaka vay Dongduong Bank VND, thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày giải ngân đầu, mục đích vay để bổ sung vốn thanh toán tiền nhập hàng theo Hợp đồng kinh tế số 05/02/2014/HĐKT ngày 27/02/2014 giữa Công ty Ansaka và Công ty TNHH TM và DV SX Ngọc Phương, lãi suất 12%/năm; Lãi suất quá hạn Bằng 150% lãi suất cho vay tại thời điểm phát sinh khoản nợ quá hạn; lãi suất phạt chậm trả Bằng 150% lãi suất cho vay tại thời điểm phát sinh khoản nợ chậm trả. Hết thời hạn vay, Công ty Ansaka không trả nợ gốc và lãi trong hạn cho Dongduong Bank. Số tiền Công ty Ansaka còn nợ theo Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày Dongduong Bank khởi kiện tạm tính đến ngày 01/06/2015 là VND, trong đó Nợ gốc VND, nợ lãi VND Để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng Dongduong Bank và Công ty Ansaka ký hợp đồng cầm cố tài sản hình thành từ vốn vay số ngày 28/02/2014 và Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 0016/2016/2014/HĐTC/ ngày 26 tháng 02 năm 2014 giữa bên nhận thế chấp DongduongBank PGD Lê Văn Lương và bên thế chấp ông Lê Văn Kháng, địa chỉ Số 02, ngõ 3, Ngô Gia Khảm, phường Yết Kiêu, quận Hà Bình, thành phố HT. Tài sản thế chấp gồm + Tài sản thứ nhất gồm 350 bình nước nóng ROSSI loại 15l, 20l, 30l theo hợp đồng kinh tế số 05-02/2014/HĐKT ngày 27/02/2014 giữa Công ty TNHH Ansaka và Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Sản xuất Ngọc Phương. Tổng là VND. + Tài sản thứ hai gồm Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của bên thứ 3 theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BH 865245, số vào sổ cấp GCN CH- 0245 do UBND quận Hà Bình, thành phố HT cấp ngày 29/06/2012 cho ông Lê Văn Kháng và bà Phạm Thị Ngân ông Kháng đăng ký sang tên do thừa kế theo hồ sơ số 24378 ngày 19/11/2013, tại địa chỉ Số nhà 102 dãy A3 khu tập thể Công ty Máy kéo, phường Yết Kiêu, quận Hà Bình, thành phố HT. Tại phiên Tòa Dongduong Bank đề nghị Buộc Công ty Ansaka phải trả cho Dongduong Bank toàn bộ nợ gốc, nợ lãi tạm tính đến 15/10/2020 là VND trong đó Nợ gốc đồng, nợ lãi trong hạn đồng; Nợ trên gốc quá hạn đồng; Nợ trên lãi quá hạn đồng. Nếu Công ty không trả nợ thì đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi theo hợp đồng tín dụng cho đến ngày Công ty thanh toán được toàn bộ khoản vay. Trường hợp Công ty không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ Ngâny sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Dongduong Bank có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để trả nợ cho Ngân hàng là Quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Kháng. * Nội dung ông Lê Văn Kháng Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày Cuối năm 2013, đầu năm 2014 chị Lê Thị Thu Ngân con gái ông Kháng cần vay vốn để làm ăn; thông qua người quen của chị Ngân nên chị Ngân mới có quen biết với Công ty TNHH Ansaka và bàn bạc thống nhất ông Kháng đứng lên thế chấp tài sản là nhà đất tại số 102, dãy A3, khu tập thể Công ty Máy kéo, phường Yết Kiêu, quận Hà Bình, thành phố HT thế chấp cho Ngân hàng để Ngân hàng cho Công ty vay số tiền VND. Sau khi ông Kháng ký kết hợp đồng thế chấp cho Ngân hàng thì anh Trần Mạnh Thanh – Giám đốc công ty có cho chị Ngân vay số tiền VND hai bên có viết giấy vay tiền. Việc Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở của ông Kháng, ông không đồng ý vì ông không biết Dongduong Bank cho Công ty Ansaka vay bao nhiêu tiền. Nay ông Kháng đề nghị Dongduong Bank giải chấp tài sản nhà đất của ông và ông có trách nhiệm trả số tiền VND Công ty Ansaka cho chị Ngân vay. Đến tháng 5/2016 ông nhận được thông báo của Ngân hàng yêu cầu ông phải thực hiện thay nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay của Công ty Ansaka với tổng số tiền là VND. Ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết Hủy hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 0016/2014/HĐTC/ ký ngày 26/2/2014 và giải chấp tài sản nhà đất cho ông là 40m2 tại địa chỉ số 102, dãy A3 khu tập thể Công ty Máy kéo, phường Yết Kiêu, quận Hà Bình, thành phố HT theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BH 965245, số vào sổ cấp GCN CH-02045 do UBND quận Hà Bình, thành phố HT cấp ngày 29/06/2012 cho ông Lê Văn Kháng và bà Phạm Thị Ngân, đã đăng ký sang tên thành tài sản riêng của ông Kháng do nhận thừa kế theo hồ sơ số 24378 ngày 19/11/2013, địa chỉ Số nhà 102 dãy A3 khu thập thể Công ty Máy kéo, phường Yết Kiêu, quận Hà Bình, thành phố HT. II. QUAN ĐIỂM BẢO VỆ CỦA EQUITY LAW Chúng tôi cho rằng, Hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo là Giấy chứng nhận QSDĐ của bên thứ ba số 0016/2014/HĐTC/ ký ngày 26/02/2014 giữa bên nhận thế chấp DongduongBank PGD Lê Văn Lương và ông Lê Văn Kháng “Hợp đồng thế chấp” là hợp đồng vô hiệu. Bởi lí do sau 1. Hợp đồng thế chấp được ký kết dựa trên thông tin gian dối, sai sự thật do sự chỉ dẫn, xúi giục của anh Nguyễn Anh Đức – cán bộ Dongduong Bank – Con ông Lê Văn Kháng là chị Lê Thị Thu Ngân Sinh năm 1982 có chồng là anh Trần Duy Hiển đã mất, chị có hai người con cháu Trần Đức Thiện, sinh năm 2002 và cháu Nguyễn Khánh Linh, sinh năm 2011. Sau khi chồng chị Ngân qua đời, chị Ngân đã đưa con về ở với ông Kháng. Năm 2012 vợ ông Kháng mất do bệnh hiểm nghèo, ông Kháng cùng chị Ngân cùng nuôi hai cháu nhỏ ăn học, do đó cuộc sống dần rơi vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Đến năm 2013, đầu năm 2014, do chị Ngân có nguyện vọng muốn vay một số tiền VND để làm vốn kinh doanh kiếm tiền nuôi hai con nhỏ học hành và bố già yếu. Khi đó, chị Ngân được anh Đức hứa hẹn giúp đỡ và đưa đi gặp ông Trần Mạnh Thanh – là Giám đốc Công ty TNHH Ansaka. Anh Đức đã đưa ra thông tin cho chị Ngân là muốn vay được tiền thì phải dùng Giấy chứng nhận nhà đất của ông Kháng để thế chấp cho khoản vay .000 VND mà không phải khoản vay VND cho Công ty TNHH Ansaka như thực tế hồ sơ ông Đức tạo lập, lừa ông Kháng ký kết. Tại đây, sau khi các bên thống nhất, chị Ngân đã ký vào Hợp đồng vay vốn đề ngày 01/03/2014 và Giấy vay tiền trong đó thể hiện nội dung “Công ty TNHH Ansaka cho chị vay số tiền là 150 triệu đồng và chị đồng ý thế chấp tài sản là bất động sản tại địa chỉ số nhà 102 Dãy A3 Khu Tập thể Công ty Máy kéo, phường Yết Kiêu, quận Hà Đồng, HT mang tên ông Lê Văn Kháng đề vay nhờ Công ty TNHH Ansaka vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đông Dương với số tiền 150 triệu đồng đợt 1 100 triệu; đợt 2 50 triệu”. Như vậy, bản thân chị Ngân đã bị ông Nguyễn Anh Đức lừa về số tiền cho vay khi ký Hợp đồng thế chấp. Chị Ngân tin tưởng vào Nguyễn Anh Đức về việc thế chấp nhà đất chỉ đảm bảo cho khoản vay VND; do vậy, chị Ngân cũng chỉ về nhà hướng dẫn cho ông Kháng ký hồ sơ để đảm bảo cho khoản vay VND không liên quan đến khoản vay VND của Công ty TNHH Ansaka. Sau đó anh Đức khẳng định với chị Ngân Công ty TNHH Ansaka vay tiền của Ngân hàng DongduongBank đã cầm cố toàn bộ lô hàng hình thành từ vốn vay theo Hợp đồng kinh tế được ký giữa Công ty TNHH Ansaka và Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Sản xuất Ngọc Phương, nên việc thế chấp tài sản của ông Kháng cho Ngân hàng chỉ là thủ tục và làm đẹp hồ sơ chứ không ảnh hưởng gì đến tài sản của ông Kháng. Nội dung này đã được chị Ngân xác nhận tại phiên tòa hôm nay; cũng như trong toàn bộ tiến trình tố tụng và những bản khai của ông Trần Mạnh Thanh – Giám đốc Công ty TNHH Ansaka. Cụ thể, tại Biên bản lấy lời khai ngày 30/9/2015, ông Thanh khai “Thực tế việc ông Kháng đứng ra thế chấp ngôi nhà này tôi không được biết, cán bộ tín dụng chỉ nói với tôi về việc đưa tài sản thế chấp của ông Kháng này vào để làm đẹp hồ sơ thôi”. Lời khai của chị Ngân và ông Thanh hoàn toàn phù hợp với trùng hợp với diễn biến thực tế và các chứng cứ khác trong vụ án. Xem xét Hợp đồng thế chấp, chỉ thể hiện có chữ ký của ông Kháng và Dongduong Bank; không có chữ ký hay cam đoan, bảo đảm nào của Công ty TNHH Ansaka với vai trò là bên được bảo đảm theo Hợp đồng. – Do tin vào những thông tin mà anh Đức đưa ra, nên chị Ngân đã nói với bố chị là dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà để thực hiện thế chấp theo yêu cầu của anh Đức chỉ thế chấp đảm bảo cho khoản vay VND. Xuất phát từ lòng thương con, thương cháu nên ông Kháng đã thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BH 865245, sổ vào sổ cấp GCN CH – 02045 do UBND quận Hà Bình, thành phố HT cấp ngày 29/06/2012 cho DongduongBank để cho chị Ngân được vay tiền lấy vốn làm ăn. Và do đã già yếu nên trình tự thủ tục vay như thế nào ông Kháng còn không hiểu, mọi thủ tục, giấy tờ đều do anh Đức làm và đưa cho ông Kháng ký. Khi ký hồ sơ này, ông Kháng chỉ hiểu là hoàn thiện thủ tục để cho con gái vay VND. Nếu biết việc thế chấp để cho Công ty TNHH Ansaka vay VND thì chắc chắn ông Kháng không bao giờ đánh đổi bằng tài sản mình tích góp cả đời có được. Mãi sau này chị Ngân và ông Kháng mới biết, việc ông Kháng ký Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 0016/2014/HĐTC/ ngày 26 tháng 02 năm 2014 giữa bên nhận thế chấp Dongduong Bank PGD Lê Văn Lương và bên thế chấp ông Lê Văn Kháng là để đảm bảo cho khoản vay 000 VND theo Hợp đồng tín dụng được ký giữa Dongduong Bank và Công ty TNHH Ansaka chứ không phải là để đảm bảo khoản vay 000 VND như thông tin anh Đức đã nói. – Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối như sau “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”. Như vậy có thể thấy, trên thực tế, anh Đức đã cố tình đưa ra những thông tin không đúng sự thật để khiến ông Kháng và chị Ngân tin rằng việc ký Hợp đồng thế chấp chỉ để đảm bảo cho khoản vay VND cho chị Ngân. Chị Ngân và ông Kháng tại thời điểm ký kết đều đã bị anh Đức lừa dối, hành vi của anh Đức đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của ông Kháng và gia đình của ông. 2. Ông Kháng và Công ty Ansaka không có bất kỳ một mối quan hệ gì Ông Lê Văn Kháng tại thời điểm ký Hợp đồng thế chấp đã gần 80 tuổi. Ông Kháng bệnh tật triền miên, hiện nay vẫn đang phải điều trị nội trú tại Bệnh viện. Trước vụ việc này, ông Kháng không có bất kỳ mối liên hệ, quen biết, hợp tác, làm ăn nào với Công ty TNHH Ansaka. Bản thân người đại diện theo pháp luật của Công ty Ansaka cũng không biết ông Kháng là ai. Việc ông Kháng thế chấp nhà đất là nơi ăn, chốn ở duy nhất của mình để đảm bảo nghĩa vụ cho một người xa lạ là hoàn toàn phi lý. Nội dung này được thể hiện rõ trong toàn bộ lời khai và tiến trình tố tụng đến nay. Tại Bản tự khai đề ngày 25/12/2016, ông Trần Mạnh Thanh đã khai “…Công ty Ansaka không có quen biết quan hệ gì với Lê Văn Kháng. Và việc ông Lê Văn Kháng thế chấp tài sản cho ngân hàng để đảm bảo khoản vay của Công ty Ansaka theo hợp đồng tín dụng 26/2/2014 là không đúng sự thật và công ty không được biết vì không biết nên hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3 không có chữ ký và con dấu…” Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 15/11/2019, ông Thanh có khai “….Khi ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng để vay số tiền đồng, để đảm bảo khoản vay giữa công ty và ngân hàng đã ký hợp đồng cầm cố tài sản hình thành từ vốn vay ngày 28/02/2014 số PGD LEVANLUONG, theo đó tài sản cầm cố là 350 bình nước nóng ROSSI loại 15l, 20l, 30l theo hợp đồng kinh tế số 05…..Tuy nhiên, trong hợp đồng tín dụng công ty ký với ngân hàng thể hiện thêm tài sản bảo đảm là quyền sử dụng nhà đất của ông Lê Văn Kháng để đảm bảo khoản vay cho công ty Ansaka. Trước khi ký hợp đồng, tôi có hỏi về vấn đề này thì ngân hàng nói bổ sung thêm tài sản bảo đảm này để làm đẹp hồ sơ chứ thực tế tôi không có quen biết hay có quan hệ gì khác với ông Lê Văn Kháng…Nay ngân hàng yêu cầu được phát mại nhà đất trên tôi không đồng ý đề nghị Tòa án không chấp thuận yêu cầu của ngân hàng…” Như vậy, có thể thấy, giữa ông Kháng và Công ty TNHH Ansaka không hề có bất kỳ một mối quan hệ, quen biết nào, ông Kháng không thể dùng Tài sản là nơi ở trực tiếp duy nhất, cũng là nơi hương hỏa, thờ phụng ông bà tổ tiên và vợ của mình để đi thế chấp nhằm bảo đảm nghĩa vụ cho Công ty Ansaka. Chính anh Nguyễn Anh Đức là người đã cố ý thực hiện những hành vi gian dối, hướng dẫn ông Kháng và gia đình vay vốn không phù hợp và không đúng với quy định pháp luật, để nhằm làm cho gia đình ông Kháng, và ông Kháng ký vào Hợp đồng thế chấp nêu trên, dẫn đến gia đình ông Kháng phải chịu trách nhiệm nặng nề, vượt quá khả năng của mình đối với khoản nợ của Công ty TNHH Ansaka. 3. Tại thời điểm giao kết Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp, tất cả các bên liên quan đều thống nhất và hiểu rằng Thực tế tài sản đảm bảo cho khoản vay VND của Công ty TNHH Ansaka chỉ bao gồm lô hàng 350 bình nước nóng Rossi theo Hợp đồng cầm cố tài sản, không bao gồm nhà đất của ông Lê Văn Kháng Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự đề ngày 30/6/2020, anh Thanh đã khai “..Ngân hàng cho Công ty TNHH Ansaka vay số tiền đồng là dựa trên hợp đồng mua bán giữa Công ty Ansaka và Công ty Ngọc Phương trị giá bằng lô hàng là 350 bình nước nóng ….phía Ngân hàng cho Công ty Ansaka vay bằng giá trị đảm bảo 100% tài sản thế chấp đảm bảo khoản vay được hình thành sau vốn vay…”. Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 15/11/2019 nêu trên cũng thể hiện rõ việc bổ sung tài sản thế chấp là nhà đất của ông Kháng chỉ để làm đẹp hồ sơ Ngân hàng. Đây là chiêu trò của cán bộ Ngân hàng nhằm lừa đảo người dân kém hiểu biết như ông Kháng. Trên thực tế, giá trị lô hàng 350 bình nước nóng đã được Dongduong Bank định giá với giá trị là VND Sáu trăm chín mươi triệu đồng. Khoản vay VND của Công ty TNHH Ansaka chỉ chiếm 72% giá trị tài sản đảm bảo. Vì vậy, trên thực tế, việc bổ sung tài sản thế chấp là nhà đất của ông Kháng trị giá VND là không cần thiết trên thực tế trừ trường hợp có sự móc nối, câu kết, lừa đảo của Dongduong Bank. Khi ký hồ sơ, ông Kháng và gia đình luôn tin tưởng vào những lời dụ dỗ của cán bộ ngân hàng Dongduong Bank, tin rằng tài sản của mình chỉ đảm bảo cho khoản vay VND của con gái; và không liên quan đến khoản vay VND của Công ty TNHH Ansaka và thực tế sẽ không bao giờ bị kê biên, phát mại để thanh toán thay nghĩa vụ của Công ty TNHH Ansaka. Do vậy, ông Kháng đã bị lừa dối khi tham gia giao dịch, ký Hợp đồng thế chấp; Hợp đồng thế chấp vô hiệu và không có giá trị pháp lý từ thời điểm giao kết. III. KẾT LUẬN Như vậy, việc ông Kháng ký vào Hợp đồng thế chấp trên là bị lừa dối. Hành vi của anh Nguyễn Anh Đức đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn Kháng. Do đó Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 0016/2014/HĐTC/ ký ngày 26/02/2014 giữa bên nhận thế chấp DongduongBank PGD Lê Văn Lương và ông Lê Văn Kháng bị vô hiệu theo quy định của pháp luật. Ngân hàng TM TNHH MTV Đông Dương có nghĩa vụ bàn giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn Kháng. Trên đây là tư vấn của EQUITY LAW FIRM về “VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG“ LIÊN HỆ LUẬT SƯ TƯ VẤN TRỰC TIẾP 078 569 0000 – 0969 099 300 Phụ trách nội dung ThS. LS. Phan Công Tiến – Luật sư điều hành Equity Law Firm Địa chỉ Tầng 5, Tòa nhà Bình Vượng Tower, số 200 đường Quang Trung, phường Quang Trung, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Email tienpc – luatsucongtien Fanpage Zalo liên hệ Luật sư Quét mã QR Zalo Luật sư Bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan của Equity Law Firm XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI CÓ NHÀ RIÊNG CỦA THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐẤT HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THỦ TỤC LẬP DI CHÚC – ĐIỀU KIỆN ĐỂ DI CHÚC HỢP PHÁP Bình luận TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B BẢN ÁN 08/2021/KDTM-PT NGÀY 20/12/2021 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG, TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP TÀI SẢN VÔ HIỆUTrong ngày 5 tháng 11 và ngày 17, ngày 20 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2021/TLPT- KDTM ngày 21/6/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, yêu cầu tuyên hợp đồng thế chấp tài sản vô hiệu”.Do bản án kinh doanh thương mại sự sơ thẩm số 02/2021/KDTM-ST ngày 23/4/2021 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên bị kháng Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2021/QĐ-PT ngày 06/8/2021, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 105/TB-TA ngày 19/8/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2021/QĐ-PT ngày 09/9/2021, Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 141/TB-TA ngày 07/10/2021; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 47/2021/QĐ-PT ngày 05/11/2021, Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 156/TB-TA ngày 02/12/2021 giữa* Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần DA Địa chỉ trụ sở chính số ** đường P, quận Phú Nhuận, thành phố diện theo pháp luật Ông Võ Minh T - Chức vụ Chủ tịch hội đồng quản diện theo ủy quyền ông Ngô Minh S - Giám đốc phòng giao dịch huyện Tân Yên theo Văn bản ủy quyền ngày 29/4/2020 có mặt.* Bị đơn - Ông Tô Văn H, sinh năm 1955 có đơn xin vắng mặt - Bà Khúc Thị T, sinh năm 1957 có đơn xin vắng mặt Đều trú tại phố TQ, thị trấn N, huyện Tân Yên, tỉnh B.* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập- Cụ Nguyễn Thị H, sinh năm 1942 có đơn xin vắng mặt - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973 có đơn xin vắng mặt Đều trú tại tổ dân phố TP, thị trấn N, huyệnTân Yên, tỉnh B.* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- Ông Phạm Đình T tức Phạm Văn T, sinh năm 1975 có mặt tại phiên tòa ngày 17/12/2021, vắng mặt tại các phiên tòa khác - Anh Phạm Đình Tr tức Phạm Văn Tr, sinh năm 1995 vắng mặt Đại diện theo pháp luật của anh Tr Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973 có đơn xin vắng mặt Nơi trú tại tổ dân phố TP, thị trấn N, huyệnTân Yên, tỉnh Anh Phạm Đình B, sinh năm 1996 vắng mặt - Ông Phạm Đình T, sinh năm 1980 có đơn xin vắng mặt - Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1985 có đơn xin vắng mặt - Chị Phạm Thị D, sinh năm 1983 có đơn xin vắng mặt Đều trú tại tổ dân phố TP, thị trấn N, huyệnTân Yên, tỉnh Ông Phạm Đình Đ, sinh năm 1963 có đơn xin vắng mặt - Ông Phạm Đình T, sinh năm 1965 có đơn xin vắng mặt Đều trú tại tổ dân phố TP, thị trấn N, huyệnTân Yên, tỉnh Bà Phạm Thị L, sinh năm 1960 vắng mặt Nơi cư trú số nhà 61, tổ 17, phường H, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Bà Phạm Thị T, sinh năm 1972 vắng mặt Nơi cư trú tổ 18, phường H, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Văn phòng công chứng Nguyễn Tư K Địa chỉ số **, phố M, thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh diện theo pháp luật Ông Nguyễn Tư K – Trưởng Văn phòng công chứng Vắng mặt.* Người kháng cáo Nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần DA do ông Ngô Minh S - Giám đốc phòng giao dịch huyện Tân Yên đại diện theo Văn bản ủy quyền ngày 29/4/2020.* Kháng nghị số 01//QĐKNPT – VKS - KDTM ngày 7/5/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân DUNG VỤ ÁNNguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần DA do ông Ngô Minh Sang - Giám đốc phòng giao dịch huyện Tân Yên trình bày* Ngày 22/11/2012 Ngân hàng thương mại cổ phần DA gọi tắt là Ngân hàng – Chi nhánh B - Phòng giao dịch huyện Tân Yên và ông Tô Văn H cùng vợ là bà Khúc Thị T có ký hợp 2 hợp đồng tín dụng số 126/NT và 127/NT. Hợp đồng tín tụng số 126 /NT có hạn mức tín dụng là đồng, mục đích sử dụng bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn vay của hạn mức tín dụng là 5 năm từ ngày 22/11/2012 đến ngày 22/11/2017. Hợp đồng tín dụng số 127 /NT có hạn mức tín dụng là đồng, mục đích sử dụng bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn vay của hạn mức tín dụng là 5 năm từ ngày 22/11/ đảm bảo cho các khoản vay theo các hợp đồng tín dụng trên, Ngân hàng và vợ chồng ông H, bà T cùng với bên có tài sản thế chấp đã ký 02 hợp đồng thế chấp- Hợp đồng thế chấp bất động sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác số 127/NT- HĐTC ngày 22/11/2012 gọi tắt là HĐTC số 127; bên thế chấp là cụ Phạm Đình Trọng, cụ Nguyễn Thị H, ông Phạm Đình Tân và bà Nguyễn Thị Ngọc; tài sản thế chấp là quyền sử dụng diện tích 838,4m2 đất trong đó có 360m2 đất ở, 478,4m2 đất vườn tại thửa số 290, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất ở thôn Tiến Phan 1, xã Nhã Nam nay là thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh B và toàn bộ tài sản gắn liền với đất. Đất đã được UBND huyện Tân Yên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất viết tắt là GCNQSDĐ số AA 046652, số vào sổ 01818 QSDĐ/100/QĐ-CT ngày 23/11/2003 cho hộ ông Phạm Văn Trọng tức Phạm Đình Trọng.- Hợp đồng thế chấp bất động sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác số 126/NT- HĐTC ngày 22/11/2012 gọi tắt là HĐTC số 126; bên thế chấp là ông Phạm Đình Thưởng, bà Nguyễn Thị H. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng diện tích 218,4m2 đất ở tại thửa số 280, tờ bản đồ số 05 địa chỉ thửa đất ở thôn Tiến Phan 1, xã Nhã Nam nay là thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh B và toàn bộ tài sản gắn liền với đất. Đất đã được UBND huyện Tân Yên cấp GCNQSDĐ AA 046646, số vào sổ 01830 QSDĐ/100/QĐ-CT ngày 23/11/2003 cho hộ ông Phạm Văn Thưởng tức Phạm Đình Thưởng.* Căn cứ vào các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nói trên, Ngân hàng TMCP DA -chi nhánh Bắc Giangvà ông H, bà T đã ký 03 hợp đồng vay vốn cụ thể- Hợp đồng vay vốn số K0242/1 ngày 22/11/2012, ông H, bà T vay số tiền là đồng; thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày 22/11/2012 đến ngày 22/05/2013. Lãi suất trong hạn là 15%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn. Mục đích vay vốn bổ sung vốn kinh doanh. Tài sản bảo đảm của khoản vay trên là các quyền sử dụng đất theo HĐTC số 126 và HĐTC số 127; tổng giá trị tài sản bảo đảm là Hợp đồng vay vốn số K0254/1 ngày 08/12/2012, ông H, bà T vay số tiền là đồng; thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày 08/12/2012 đến ngày 08/06/2013. Lãi suất trong hạn là 15%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn. Mục đích vay vốn bổ sung vốn kinh doanh. Tài sản bảo đảm của khoản vay trên là là các quyền sử dụng đất theo HĐTC số 126 và HĐTC số 127; tổng giá trị tài sản bảo đảm là đồng - Hợp đồng vay vốn số K0292/1 ngày 27/4/2013, ông H, bà T vay số tiền là đồng; thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày 27/4/2013 đến ngày 27/10/2013. Lãi suất trong hạn là 14%/ năm còn lãi suất quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn. Mục đích vay vốn bổ sung vốn kinh doanh. Tài sản bảo đảm của khoản vay trên là là các quyền sử dụng đất theo HĐTC số 126 và HĐTC số 127; tổng giá trị tài sản bảo đảm là đồng.* Quá trình thực hiện hợp đồng cụ thể như sau- Hợp đồng vay vốn số K0242/1 tính đến ngày 04/5/2019 ông H, bà T đã trả được đồng tiền gốc và đồng tiền lãi. Số tiền gốc nợ là đồng và tiền lãi quá hạn là Hợp đồng vay vốn số K0254/1 tính đến ngày 04/5/2019 ông H, bà T đã trả được đồng tiền gốc và đồng tiền lãi. Số tiền nợ gốc là 0 đồng, số tiền lãi quá hạn là Hợp đồng vay vốn số K0292/1 tính đến ngày 04/5/2019 ông H, bà T đã trả đồng tiền gốc và đồng tiền lãi. Số tiền nợ gốc 0 đồng, tiền lãi trong hạn là đồng và tiền lãi quán hạn là diện Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á yêu cầu ông H và bà T T toán đồng nợ gốc, đồng nợ lãi tính đến ngày 23/4/2021; lãi phát sinh kể từ sau ngày 23/4/2021 đến khi T toán xong toàn bộ dư nợ. Trường hợp ông H, bà T không trả được nợ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo quy đơn ông Tô Văn H, bà Khúc Thị T trình bày ông bà xác nhận năm 2012 có vay vốn của Ngân hàng TMCP DA- chi nhánh B theo hợp đồng tín dụng số 126/NT ký ngày 22/11/2012 và hợp đồng tín dụng số 127/NT ngày 22/11/2012 với hạn mức vay là đồng. Cùng ngày, giữa vợ chồng ông bà, cụ Trọng, cụ H, ông Tân, bà Ngọc, bà H, ông Thưởng với đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần DA - chi nhánh B - phòng giao dịch Tân Yên có ký 02 hợp đồng thế chấp số 126 và 127. Tài sản bảo đảm theo hai hợp đồng thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa số 290, tờ bản đồ số 05 tại xã Nhã Nam theo GCNQSDĐ số AA 046652, số vào sổ 01818 QSDĐ/100/QĐ-CT do UBND huyện Tân Yên cấp ngày 23/11/2003 cho hộ cụ Phạm Đình Trọng tức Phạm Văn Trọng và quyền sử dụng đất tại thửa số 280, tờ bản đồ số 05 tại xã Nhã Nam theo GCNQSDĐ số AA 046646, số vào sổ 01830 QSDĐ/100/QĐ-CT do UBND huyện Tân Yên cấp ngày 23/11/2003 cho hộ ông Phạm VănThưởngtức Phạm Đình Thưởng.Sau khi ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp thì đại diện Ngân hàng DA – chi nhánh B và vợ chồng ông đã ký 03 hợp đồng vay vốn với tổng số tiền vay là đồng dựa vào hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã ký tại phòng giao dịch Tân Yên là không đúng quy định của pháp luật. Ông bà xác định hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp để đảm bảo khoản tiền vay của vợ chồng ông bà tại phòng giao dịch Tân Yên chứ không đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng thương mại cổ phẩn DA- chi nhánh B nên ông bà đề nghị tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 126 và số 127 ngày 22/11/2012 là vô với tổng số nợ gốc và nợ lãi theo 3 hợp đồng vay vốn nêu trên, ông bà đồng ý trả nhưng đề nghị Ngân hàng thương mại cổ phần DA – chi nhánh B miễn giảm lãi do ông bà tuổi đã cao.* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập- Cụ Nguyễn Thị H trình bày cụ là vợ của cụ ông Phạm Đình Trọng. Gia đình cụ có thửa đất số 290, tờ bản đồ số 05 , rộng 838,4m2gồm 360m2 đất ở và 478,4m 2 đất vườn tại thôn Tiến Phan 1, xã Nhã Nam, huyện Tân Yên đã được cấp GCNQSDĐ số AA 046652, số vào sổ 01818 QSDĐ/100/QĐ-CT do UBND huyện Tân Yên cấp ngày 23/11/2003. Ngày 22/11/2012, vợ chồng cụ đã ký hợp đồng thế chấp số 127/NT – HĐTC với Ngân hàng thương mại cổ phẩn DA –Chi nhánh B phòng giao dịch Tân Yên để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng số 127 ngày 22/11/2012 của ông Tô Văn H, bà Khúc Thị T tại Ngân hàng thương mại cổ phần DA -phòng giao dịch Tân Yên. Khi thế chấp, trên diện tích đất có nH cấp bốn 05 gian, nH bếp, chuồng lợn, nH vệ sinh. Từ sau khi thế chấp không xây dựng thêm gì. Cụ không đồng ý với yêu cầu phát mại tài sản của cụ vì Ngân hàng đang khởi kiện đối với khoản nợ theo hợp đồng vay vốn số K0242/1 ngày 22/11/2012, hợp đồng vay vốn số K0254/1 ngày 08/12/2012, hợp đồng vay vốn số K 0292/1 ngày 27/4/2013. Ba hợp đồng này không nằm trong phạm vi đảm bảo của hợp đồng thế chấp số 127 ngày 22/11/2012. Gia đình cụ có 9 thành viên là vợ chồng cụ và các con là bà L, ông Điện, ông Thưởng, ông T, bà T, ông Tân, bà Ngọc nhưng Hợp đồng thế chấp quyền chỉ có 4 thành viên ký, còn bà L, bà T, ông T, ông Thưởng, ông Đkhông ký là xâm phạm đến quyền và lợi ích của các con cụ. Cụ Trọng đã chết năm 2016. Cụ đề nghị tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 127 ngày 22/11/2012 vô hiệu. Ông T, bà H pH có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền còn Bà Nguyễn Thị H trình bày ngày 22/11/2012 bà ký hợp đồng thế chấp số 126/NT – HĐTC với Ngân hàng thương mại cổ phẩn DA – chi nhánh B - phòng giao dịch Tân Yên để đảm bảo khoản vay của ông Tô Văn H, bà Khúc Thị T theo hợp đồng tín dụng số 126 ngày 22/11/2012. Đến nay Ngân hàng thương mại cổ phần DA – chi nhánh B đang khởi kiện đối với khoản nợ theo hợp đồng vay vốn số K0242/1 ngày 22/11/2012, hợp đồng vay vốn số K0254/1 ngày 08/12/2012, hợp đồng vay vốn số K 0292/1 ngày 27/4/2013. Ba hợp đồng vay vốn ông H, bà T ký với Ngân hàng thương mại cổ phần DA – chi nhánh B không nằm trong phạm vi đảm bảo của hợp đồng thế chấp số 126 ngày 22/11/2012. Khi Ngân hàng TMCP DA – chi nhánh B ký các hợp đồng vay vốn trên với ông H, bà T thì bà không được biết và cũng không được ông H, bà T cũng như Ngân hàng thông báo gì. Tại thời điềm thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất của hộ gia đình bà thì có các thành viên là vợ chồng bà và các con là anh Trường, anh Bình nhưng trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất chỉ có bà tham gia ký kết, chồng con bà không ký là chưa đúng quy định. Do vậy, bà đề nghị tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 126 ngày 22/11/2012 vô hiệu, GCNQSDĐ thì bà đã được Ngân hàng trả có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm có- Ông Phạm Đình Thưởng tức Phạm Văn Thưởng là chồng bà H trình bày Ông không biết việc vợ ông là bà Nguyễn Thị H cho vợ chồng ông H, bà T mượn sổ đỏ của gia đình để thế chấp vay tiền Ngân hàng. Khi Tòa án đến làm việc, thông báo thì ông mới đươc biết. Ông chưa từng ký hợp đồng thế chấp nào do ông không biết chữ. Chữ ký trong hợp đồng thế chấp là của ai thì ông không biết. Ông H, bà T pH chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng, ông không đồng ý xử lý tài sản thế chấp vì các khoản vay mà Ngân hàng đang khởi kiện ông H, bà T không nằm trong phạm vi bảo đảm của Hợp đồng thế chấp số 126. Ông đề nghị Ngân hàng DA xóa thế chấp cho ông, gia đình ông đã được trả lại GCNQSDĐ nên ông không yêu cầu Ngân hàng trả lại. Đối với việc cụ Trọng, cụ H bố mẹ ông ký hợp đồng thế chấp số 127 ngày 22/11/2012 thì ông không nhất trí vì ông cũng là thành viên hộ gia đình cụ Trọng nhưng không được ký hợp đồng thế chấp. Nay bố ông là cụ Trọng đã mất năm 2016, ông đề nghị Tòa án tuyên Hợp đồng thế chấp số 127 vô Ông Phạm Đình Tân và bà Nguyễn Thị Ngọc trình bày ngày 22/11/2012 gia đình ông bà gồm có vợ chồng ông và cụ Trọng, cụ H có ký hợp đồng thế chấp số 127/NT – HĐTC với Ngân hàng thương mại cổ phẩn DA- phòng giao dịch Tân Yên để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng số 127 ngày 22/11/2012 của ông Tô Văn H, bà Khúc Thị T tại phòng giao dịch Tân Yên. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa số 290, tờ bản đồ số 05 tại xã Nhã Nam đã được cấp ngày 23/11/2003, trên đất có đất có nH cấp bốn 5 gian, bếp, chuồng lợn, nH vệ sinhđể bảo đảm khoản vay cho ông H, bà T vay vốn tại Ngân hàng TMCP DA – chi nhánh B, phòng giao dịch Tân Yên. Sau khi thế chấp vợ chồng ông bà đã làm thêm mái tôn. Đến nay Ngân hàng khởi kiện ông H, bà T trả số tiền vay và đề nghị xử lý tài sản thế chấp thì ông bà không đồng ý vì hợp đồng thế chấp số số 127/NT – HĐTC đảm bảo cho hợp đồng tín dụng số 127 ngày 22/11/2012 của ông Tô Văn H, bà Khúc Thị T tại phòng giao dịch Tân Yên. Tuy nhiên, Ngân hàng thương mại cổ phần DA- chi nhánh B đang khởi kiện ông H, bà T đối với khoản nợ theo hợp đồng vay vốn số K0242/1 ngày 22/11/2012, hợp đồng vay vốn số K0254/1 ngày 08/12/2012, hợp đồng vay vốn số K 0292/1 ngày 27/4/2013. Ba hợp đồng vay vốn ông H, bà T ký với Ngân hàng thương mại cổ phần DA – chi nhánh B không nằm trong phạm vi đảm bảo của hợp đồng thế chấp số 127 ngày 22/11/2012. Mặt khác, tại thời điểm thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình thì hộ có 09 thành viên là cụ H, cụ Trọng và các con là bà L, ông Điện, ông Thưởng, ông T, bà T, ông Tân, bà Ngọc nhưng trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất chỉ có vợ chồng cụ Trọng, ông Tân, bà Ngọc ký là chưa đúng quy định nên ông, bà đề nghị tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp số 127 ngày 22/11/2012 vô hiệu, buộc Ngân hàng TMCP DA pH trả cho hộ gia đình ông bà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 046652 - Đối với chị Phạm Thị Dinh, anh Phạm Đình Trường và Phạm Đình Bình trong qua trình giải quyết vụ án Tòa án không thu thập được lời khai của chị Dinh, anh Bình, anh Trường. Tại biên bản ghi lời khai ngày 17/12/2020 ông Thưởng, bà H thống nhất bà Nguyễn Thị H là người đại diện theo pháp luật của anh Phạm Đình Trường để tham gia giải quyết vụ án theo quy định của pháp Phạm Đình T, ông Phạm Đình Điện, bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị L là các con cụ Trọng và cụ H trình bày năm 2012, cụ Trọng, cụ H và vợ chồng ông Tân, bà Ngọc có ký hợp đồng thế chấp số 127 ngày 22/11/2012, thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa số 290, tờ bản đồ số 05 tại xã Nhã Nam đã được cấp ngày 23/11/2003 để bảo đảm khoản vay cho ông H, bà T vay vốn tại Ngân hàng TMCP DA – chi nhánh B - phòng giao dịch Tân Yên để vay số tiền đồng. Các ông, bà không đồng ý với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của gia Văn phòng công chứng Nguyễn Tư Khoa do ông Nguyễn Tư Khoa đại diện theo pháp luật trình bày ngày 22/11/2012 ông Phạm Đình Thường, bà Nguyễn Thị H, cụ Phạm Đình Trọng, cụ Nguyễn Thị H, ông Phạm Đình Tân, bà Nguyễn Thị Ngọc đều là bên thế chấp quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp số 126/NT- HĐTC và hợp đồng thế chất số 127NT- HĐTC đã đến Văn phòng công chứng Nguyễn Tư Khoa yêu cầu công chứng hợp đồng thế chấp trên. Sau khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Thưởng, hộ cụ Trọng khớp với thông tin ghi trên hợp đồng thế chấp. Bên thế chấp đã ký vào hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nên văn phòng công chứng thực hiện công chứng là đúng quy định của pháp cầu độc lập của cụ H và bà H là không có căn cứ. Tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông Thưởng thì anh Trường, anh Bình chưa đủ 15 tuổi, nguồn gốc diện tích đất cấp cho ông Thưởng là do bố mẹ ông Thưởng cho con nên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất chỉ có chữ ký của ông Thưởng, bà H. Tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho hộ cụ Trọng thì hộ chỉ có cụ Trọng, cụ H, ông Tân, bà Ngọc còn cháu Tâm sinh sau thời điểm được cấp GCNQSDĐ. Đối chiếu với các thành viên trong sổ hộ khẩu với thành viên của hộ cụ Trọng trong hợp đồng thế chấp là đúng và đầy đủ. Khi các bên ký hợp đồng thế chấp, ông Thưởng, bà H thấy quyền và nghĩa vụ của mình bị xâm phạm thì ông Thưởng, bà H phải có ý kiến với Ngân hàng DA hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết nhưng ông Thưởng, bà H đều không có ý kiến, đến năm 2017 mới yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu là đã quá thời hạn quy định về quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu.* Luật sư Tạ Văn Phú bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị H trình bày ngày 22/11/2012 bà H có ký hợp đồng thế chấp số 126 với Ngân hàng thương mại cổ phần DA – chi nhánh B- phòng giao dịch Tân Yên để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của ông H, bà T đối với các khoản vay phát sinh tại phòng giao dịch Tân Yên. Tuy nhiên, hiện nay Ngân hàng thương mại cổ phần DA – chi nhánh B khởi kiện ông H, bà T trả số tiền theo hợp đồng vay vốn số K0242/1 ngày 22/11/2012, hợp đồng vay vốn số K0254/1 ngày 08/12/2012, hợp đồng vay vốn số K 0292/1 ngày 27/4/2013. Ba hợp đồng vay vốn trên đều do ông H, bà T ký với Ngân hàng thương mại cổ phần DA – chi nhánh B. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Thưởng - gồm 4 thành viên ông Thưởng, bà H, anh Bình, anh Trường nhưng tại hợp đồng thế chấp chỉ có một mình bà H ký mà không có văn bản ủy quyền theo pháp luật. Anh Trường là người bị câm điếc bẩm sinh nhưng quyền và lợi ích của anh Trường vẫn được bảo đảm, là thành viên của hộ gia đình sử dụng đất. Khi định đoạt liên quan đến phần tài sản của anh Trường phải có sự đồng ý của người giám hộ của anh Trường. Trong hợp đồng thế chấp số 126 thể hiện có chữ ký của bà H, ông Thưởng nhưng chữ ký của ông Thưởng là giả mạo vì ông Thưởng là người không biết chữ. Về địa điểm ký hợp đồng thế chấp, theo lời khai của bà H thì hợp đồng thế chấp được ông H, bà T mang về nhà cho bà H ký chứ bà không xuống văn phòng công chứng Nguyễn Tư K ký là không đúng quy định của pháp luật. Ông Thưởng, bà H ký hợp đồng thế chấp mà không có chữ ký của các thành viên còn lại trong hộ gia đình, chữ ký của ông Thưởng trong hợp đồng thế chấp không đảm bảo tính pháp lý đã vi phạm điều cấm của pháp luật và thuộc trường hợp hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 128 Bộ luật dân sự. Từ những phân tích nêu trên, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 109, Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 39, Điều 41 Luật công chứng năm 2006, khoản 2 Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ- CP của chính phủ, mục 4 phần III Giải đáp số 01/2021/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao tuyên Bác yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa số 280 tờ bản đồ số 05 của hộ gia đình ông Phạm Đình Thưởng. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà H, ông Thưởng tuyên bố hợp đồng thế chấp số 126/NT- HĐTC vô hiệu. Yêu cầu Ngân hàng thương mại cổ phần DA giải chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 046646 số vào số cấp giấy chứng nhận 01830/QS DĐ/100/QQĐ- CT do UBND huyện Tân Yên cấp ngày 23/11/2003 cho hộ ông Phạm Đình có nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 02/2021/KDTM-ST ngày 23/4/2021 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên đã quyết định1. Buộc ông Tô Văn H và bà Khúc Thị T pH trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần DA – Chi nhánh B đại diện với tổng số tiền là đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 23/4/2021, trong đó có tiền nợ gốc và đồng tiền nợ từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm,ông Tô Văn H và bà Khúc Thị T còn pH tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa T toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi T toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần DA - chi nhánh B đại diện cho vay thì lãi suất mà ông Tô Văn H, bà Khúc Thị T vay pH tiếp tục T toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần DA- chi nhánh B đại diện cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần DA-chi nhánh B đại diện cho Tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 126/NT/HĐTC ngày 22/11/2012 ký kết giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần DA - Chi nhánh B – Phòng giao dịch Tân Yên với bên thế chấp vợ chồng ông Phạm Đình Thưởng, bà Nguyễn Thị H và hợp đồng thế chấp số 127/NT/HĐTCngày 22/11/ 2012 ký kết giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần DA- Chi nhánh B - Phòng giao dịch Tân Yên với bên thế chấp vợ chồng cụ Phạm Đình Trọng, cụ Nguyễn Thị H, ông Phạm Đình Tân, bà Nguyễn Thị Ngọc vô Về chi phí thẩm định tại chỗ Ngân hàng thương mại cổ phần DA - chi nhánh B đại diện pH chịu đồng chi phí thẩm định tại chỗ. Xác nhận Ngân hàng thương mại cổ phần DA -chi nhánh B đại diện đã nộp đủ chi phí thẩm định tài Về án phí Ông Tô Văn H và bà Khúc Thị T, cụ Nguyễn Thị H được miễn tiền án phí kinh doanh thương mại sơ lại cho bà Nguyễn Thị H đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp tại biên lai số AA/2018/ 0006361 ngày 16/ 6/ 2020 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Tân hàng thương mại cổ phần DA - Chi nhánh B đại diện pH chịu đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đồng đã nộp tại biên lại số AA/2018/ 0005894 ngày 02/ 8/2019 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Hoàn trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần DA – Chi nhánh B đại diện số tiền là đồng đã nộp tại biên lai số AA/2018/ 0005894 ngày 02/ 8/2019 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Tân ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo cho các bên đương khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/4/2021, đại diện của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần DA nộp đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng, tuyên các hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực pháp kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên có kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS- KDTM ngày 07 tháng 5 năm 2021, cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh B sửa Bản án sơ thẩm theo hướng xác định hợp đồng thế chấp số 127 có hiệu lực pháp luật; xác định hợp đồng thế chấp số 126 vô hiệu ½; chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật; buộc ông Tô Văn H và bà Khúc Thị T pH chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Ngoài ra, kháng nghị còn nêu ra một số thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm về việc tuyên án xác định hai hợp đồng thế chấp số 126 và 127 vô hiệu nhưng không tuyên việc chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; không tuyên việc không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế phiên tòa phúc thẩm ngày 5/11/2021Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xin thay đổi, bổ sung kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh B sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên bố hợp đồng thế chấp số 127 có hiệu lực pháp luật; tuyên bố hợp đồng thế chấp số 126 bị vô hiệu ½ do hai con của bà H, ông Thưởng không ký hợp đồng; chấp nhận một phần yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn theo quy định của pháp luật. Các khoản vay của ông H và bà T được bảo đảm đồng thời bằng hai tài sản thế chấp, tỷ lệ bảo đảm sẽ căn cứ vào tỷ lệ % giá trị của từng tài sản so với tổng giá trị tài sản đã định giá tại tời điểm thế chấp. Nguyên đơn nhất trí với Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên. Năm 2015, Giám đốc Phòng giao dịch đã đồng ý cho các gia đình mượn lại GCNQSDĐ để đối chiếu số liệu đất đai với thôn. Sau đó, các gia đình chưa trả lại cho Ngân hàng. Hiện tại, Ngân hàng không còn quản lý hai GCNQSDĐ trên nhưng việc thế chấp vẫn còn hiệu lực vì chưa làm thủ tục xóa thế chấp đối với các thửa đất Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, không yêu cầu Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại cấp phúc thẩm. Các đương sự khác đều vắng diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B giữ nguyên Kháng nghị số 01//QĐKNPT – VKS - KDTM ngày 7/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, đề nghị tạm ngừng phiên tòa để xác minh việc xóa thế chấp đối với hai thửa đất có liên quan, năm sinh chính xác của cụ H, bà H; tên chính xác của anh Trường do trong hồ sơ vụ án có nhiều thông tin khác nhau. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định tạm ngừng phiên phiên tòa ngày 17/12/2021Nguyên đơn trình bày giữ nguyên kháng cáo ban đầu, đề nghị Tòa án xác định cả hai hợp đồng thế chấp số 126 và 127 có hiệu lực. Trường hợp ông H và bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ , Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại các tài sản thế chấp theo hai hợp đồng thế chấp nói trên. Trường hợp có hợp đồng thế chấp bị tuyên vô hiệu thì Ngân hàng chưa xác định được thiệt hại nên không yêu cầu xem xét trong vụ án này. Việc Ngân hàng trả lại GCNQSDĐ cho hai hộ gia đình không ảnh hưởng gì đến việc thế chấp các tài sản trên vì việc thế chấp được đăng ký theo quy định của pháp luật và chưa xóa thế Phạm Đình Thưởng có mặt trình bày Do bận việc gia đình nên ông và các thành viên trong gia đình không tham gia các phiên tòa trước. Ông chưa bao giờ đồng ý cho ông H, bà T mượn sổ đỏ để thế chấp vay tiền Ngân hàng. Bà H vợ ông ông tự quyết mà không nói gì cho ông và các con được biết. Ông chưa từng đến Văn phòng công chứng Nguyễn Tư Khoa và cũng chưa bao giờ ký hợp đồng thế chấp nào do ông không biết đọc, không biết viết. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông và gia đình cụ Trọng thì Ngân hàng đã trả lại cho hai gia đình. Nếu ông H, bà T không trả được nợ cho Ngân hàng, ông không đồng ý phát mại nH, đất của ông để trả nợ cho Ngân hàng DA vì việc thế chấp trên là trái pháp luật. Ông đề nghị Hội đồng xét xử xác định hợp đồng thế chấp nH, đất của ông vô hiệu. Gia đình ông không có yêu cầu giải quyết hậu quả của hơp đồng vô hiệu do đã nhận được diện Viểm sát tỉnh B giữ nguyên nội dung kháng nghị và phát biểu quan điểm- Về tố tụng Toà án nhân dân tỉnh B và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân Về nội dung vụ án Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh B áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, chấp nhận một phần kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, sửa bản án sơ án phí dân sự phúc thẩm nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do một phần kháng cáo được chấp ĐỊNH CỦA TÒA ÁNSau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định[1] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa Ông H, bà T, cụ H, bà H, ông Tân, bà Ngọc, chị Dinh, ông Điện, ông T đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bà L, bà T, đại diện Văn phòng công chứng Tư Khoa, anh Bình được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt họ là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.[2] Xét nội dung kháng nghị và kháng cáo về hiệu lực của các hợp đồng thế chấp và việc xử lý tài sản thế chấp[ Ngày 22/11/2012, Ngân hàng TMCP DA – Chi nhánh B - Phòng giao dịch huyện Tân Yên và ông Tô Văn H, bà Khúc Thị T có ký kết 2 hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng số 126/NT với hạn mức tín dụng là đồng và Hợp đồng tín dụng số 127/NT với hạn mức tín dụng là đồng. Cùng ngày, tại Văn phòng công chứng Nguyễn Tư Khoa, ông H, bà T cùng với bên có tài sản thế chấp đã ký Hợp đồng thế chấp số 126 và Hợp đồng thế chấp số 127 với Ngân hàng để đảm bảo cho các khoản vay theo các hợp đồng tín dụng cứ vào các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nói trên, Ngân hàng TMCP DA - chi nhánh Bắc Giang và ông H, bà T đã ký 03 hợp đồng vay vốn cụ thể Hợp đồng vay vốn số K0242/1 ngày 22/11/2012, ông H, bà T vay số tiền là đồng; Hợp đồng vay vốn số K0254/1 ngày 08/12/2012, ông H, bà T vay số tiền là đồng; Hợp đồng vay vốn số K0292/1 ngày 27/4/2013, ông H, bà T vay số tiền là Quyết định số 13/2008/QĐ- NHNN ngày 29/4/2008 của Ngân hàng Nhà nước phòng giao dịch là bộ phận phụ thuộc sở giao dịch, chi nhánh của Ngân hàng thương mại hạch toán báo sổ, có con dấu, thực hiện một số giao dịch với khách hàng. Phòng giao dịch không được cấp tín dụng cho một khách hàng vượt quá hai tỷ đồng Việt Nam. Tuy nhiên, Ngân hàng thương mại cổ phần DA là nguyên đơn trong vụ án đã biết và không có ý kiến gì về các hợp đồng tín dụng, các hợp đồng thế chấp nói trên thì các hợp đồng tín dụng, các hợp đồng thế chấp đều được coi là được ký kết trong phạm vi được ủy quyền phạm vi được đại diện theo quy định tại Điều 92 và Điều 146 của Bộ luật Dân sự 2005. Ngân hàng DA có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp do Chi nhánh B hoặc Phòng giao dịch tại Tân Yên xác lập và thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng tín dụng số 126, 127 vô hiệu do vượt quá hạn mức là không đúng.[ Về hiệu lực của Hợp đồng thế chấp số 126/NT-HĐTC ngày 22/11/2012 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần DA – Phòng giao dịch huyện Tân Yên với ông Phạm Đình Thưởng và bà Nguyễn Thị H và yêu cầu xử lý tài sản theo hợp đồng thế chấp số 126 của nguyên đơnTheo nội dung ghi trong hợp đồng thế chấp số 126 Bên nhận thế chấp được xác định là Ngân hàng thương mại cổ phần DA; bên thế chấp là ông Phạm Đình Thưởng và bà Nguyễn Thị H. Ông Thưởng, bà H thế chấp quyền sử dụng diện tích 218,4m2 đất ở tại thửa số 280, tờ bản đồ số 05 địa chỉ thửa đất ở thôn Tiến Phan 1, xã Nhã Nam nay là thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh B và toàn bộ tài sản gắn liền với đất. Đất đã được UBND huyện Tân Yên cấp GCNQSDĐ AA 046646, số vào sổ 01830 QSDĐ/100/QĐ-CT ngày 23/11/2003 cho hộ ông Phạm Văn Thưởng tức Phạm Đình Thưởng đảm bảo cho việc thực hiên nghĩa vụ của ông H, bà T theo hợp đồng tín dụng số 126/NT và và các nghĩa vụ phát sinh trong tương lai của ông H, bà T đối với Ngân hàng thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/11/2003, hộ ông Phạm Đình Thưởng có 4 thành viên ông Phạm Đình Thưởng và vợ là bà Nguyễn Thị H; anh Phạm Đình Trường và anh Phạm Đình Bình là các con ông Thưởng, bà H. Theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quyền sử dụng thửa đất số 280 nói trên là tài sản chung của hộ gia đình bà H. Do ông Thưởng và bà H đều xác định các thành viên trong gia đình có quyền ngang nhau nên ½ giá trị quyền sử dụng thửa đất là tài sản chung hợp nhất của ông Thưởng và bà H, ½ giá trị quyền sử dụng thửa đất là tài sản chung theo phần của anh Trường và anh Bình các con của ông Thưởng, bà H.Hợp đồng thế chấp số 126 do nguyên đơn cung cấp thể hiện ông Thưởng, bà H, đại diện Ngân hàng DA, ông H, bà T tham gia ký kết hợp đồng, được công chứng tai Văn phòng công chứng Nguyễn Tư Khoa. Sau khi công chứng, các bên làm thủ tục đăng ký thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền. Tại muc bên B bên thế chấp trong hợp đồng có chữ ký, chữ viết của ông Thưởng và bà H. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, ông Thưởng đều trình bày không biết việc bà H cho ông T, bà H mượn sổ đỏ của gia đình để thế chấp Ngân hàng. Khi Tòa án đến làm việc, thông báo thì ông mới được biết. Ông chưa từng biết đến Hợp đồng thế chấp số 126 và cũng chưa ký vào hợp đồng này. Lời trình bày của ông Thưởng là có căn cứ chấp nhận vì Trưởng thôn nơi ông Thưởng sinh sống xác nhận ông Thưởng không biết đọc, không biết viết. Do đó, đủ cơ sở xác định ông Thưởng, anh Bình, anh Trường không biết và không được ký hợp đồng thế chấp nói trên. Quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn của hộ gia đình, của vợ chồng. Việc bà H tự ý định đoạt tài sản chung hợp nhất chưa phân chia của vợ chồng, tự ý định đoạt phần tài sản của các đồng sở hữu chung theo phần các con mà không có sự bàn bạc hay đươc sự đồng ý của họ là vi phạm Điều 109, Điều 223 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Căn cứ Điều 121, Điều 122, Điều 128 của Bộ luật Dân sự 2005, xác định hợp đồng thế chấp số 126/NT-HĐTC vô hiệu toàn bộ do vi phạm điều cấm của pháp luật. Do hợp đồng thế chấp 126 vô hiệu nên yêu cầu xử lý tài sản theo hợp đồng thế chấp số 126 của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận. Về hậu quả của hợp đồng thế chấp tài sản bị tuyên vô hiệu, Tòa án đã tiến hành giải thích quy định của pháp luật nhưng không đương sự nào có yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết. Sau này, nếu có yêu cầu, các đương sự có quyền khởi kiện, yêu cầu giải quyết bằng vụ án án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng thế chấp số 126 vô hiệu, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản theo Hợp đồng thế chấp 126 là đúng nhưng nhận định Hợp đồng thế chấp số 126 chỉ đảm bảo cho các khoản vay của ông H, bà T tại phòng giao dich Tân Yên mà không đảm bảo các khoản vay của ông H, bà T tại Chi nhánh B của Ngân hàng DA là không chính xác.[ Về Hợp đồng thế chấp số 127/NT-HĐTC ngày 22/11/2012 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần DA – Phòng giao dịch huyện Tân Yên với cụ Phạm Đình Trọng, cụ Nguyễn Thị H, ông Phạm Đình Tân, bà Nguyễn Thị Ngọc và yêu cầu xử lý tài sản theo hợp đồng thế chấp số 127/NT-HĐTCTheo nội dung của hợp đồng bên nhận thế chấp được xác định là Ngân hàng thương mại cổ phần DA. Bên thế chấp là cụ Phạm Đình Trọng, cụ Nguyễn Thị H, ông Phạm Đình Tân, bà Nguyễn Thị Ngọc. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng diện tích 838,4m2 đất trong đó có 360m2 đất ở, 478,4m2 đất vườn tại thửa số 290, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất ở thôn Tiến Phan 1, xã Nhã Nam nay là thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh B và toàn bộ tài sản gắn liền với đất. Đất đã được UBND huyện Tân Yên cấp GCNQSDĐ số AA 046652, số vào sổ 01818 QSDĐ/100/QĐ-CT ngày 23/11/2003 cho hộ ông Phạm Văn Trọng tức Phạm Đình Trọng.Tại thời điểm cấp GCNQSDĐ ngày 23/11/2003, hộ gia đình cụ Phạm Đình Trọng có 4 thành viên cụ Trọng, cụ H, ông Tân, bà Ngọc. Các con của cụ Trọng đều đã lập gia đình riêng và không có tên trong danh sách thành viên hộ gia đình. Cháu Phạm Thị T Tâm, sinh năm 2007 và cháu Phạm Thị T Ngân, sinh năm 2010 là các con của anh Tân, chị Ngọc hiên nay có tên trong sổ hộ khẩu gia đình nhưng đều sinh sau thời điểm cấp GCNQSDĐ. Theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quyền sử dụng thửa đất số 290 nói trên là tài sản chung của cụ Trọng, cụ H, ông Tân, bà Ngọc. Khi xác lập hợp đồng thế chấp số 127 thì tất cả các thành viên trong hộ gia đình trên 15 tuổi đã tự nguyện ký vào hợp đồng thế chấp là đảm bảo quy định về định đoạt tài sản chung theo quy định tại Điều 109, Điều 223 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Tư Khoa; các bên đã làm thủ tục đăng ký thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền. Do vậy, Hợp đồng thế chấp số 127 có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 121, Điều 122, Điều 135, Điều 137 của Bộ luật Dân sự đại diện Ngân hàng trình bày không còn quản lý GCNQSDĐ của gia đình cụ H nhưng qua làm việc tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Tân Yên, việc thế chấp quyền sử dụng thửa số 290, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất ở thôn Tiến Phan 1, xã Nhã Nam nay là thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh B và toàn bộ tài sản gắn liền với đất chưa được xóa thế chấp. Căn cứ vào Điều 2 và Điều 6 trong các Hợp đồng thế chấp số 127 và quy định tại Điều 342, Điều 351, Điều 355 của Bộ luật Dân sự 2005, trường hợp ông H và bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng DA có quyền đề nghị phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp số án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng thế chấp số 127 vô hiệu và không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về xử lý phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng trên trong trường hợp bên vay không thực hiên nghĩa vụ trả nợ là không đúng, cần chấp nhận kháng nghị và kháng cáo của nguyên đơn về nội dung này.[3] Xét nội dung kháng nghị về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩmNội dung kháng nghị cho rằng Tranh chấp giữa Ngân hàng DA với ông Tô T H, bà Khúc Thị T là tranh chấp kinh doanh thương mại giữa pháp nhân có đăng ký kinh doanh với cá nhân có đăng ký kinh doanh, đều có mục đích lợi nhuận. Do đó, ông H, bà T trên 60 tuổi nhưng không thuộc trường hợp được miễn án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Ông H và bà T phải có nghĩa vụ T toán cho Ngân hàng DA tổng số tiền đồng. Theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và điểm đ mục – A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326 thì ông H và bà T phải chịu án phí tương ứng là đồng +2% x đồng = đồng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm miễn án phí cho ông H, bà T là không đúng, gây thất thu cho Ngân sách Nhà cứ lời khai của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ thì thấy ông H và bà T vay tiền với tư cách cá nhân, không đại diện cho tổ chức hay pháp nhân nào. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, ông H và bà T đều trên 60 tuổi, là người cao tuổi, có đơn xin miễn tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Đối chiếu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông H và bà T đủ điều kiện được miễn án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm miễn toàn bộ án phí kinh doanh thương mại cho ông H, bà T là có căn cứ và đúng pháp luật. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên về nội dung này.[4] Những thiếu sót cần rút kinh nghiệmVề việc xác định tư cách đương sự Cụ Phạm Đình Trọng chết năm 2016, trước khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định Hng thừa kế thứ nhất của cụ Trọng là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của đương sự là chưa chính xác, cần xác định lại là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Việc xác định sai tư cách đương sự không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng nhưng cần rút kinh nghiệm trong các vụ án sau án cấp sơ thẩm tuyên ông H, bà T pH trả nợ nhưng không ghi trả theo các hợp đồng tín dụng cụ thể nào; Ngân hàng có yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp, bà H có yêu cầu độc lập về việc tuyên Hợp đồng thế chấp số 126 vô hiệu, cụ H có yêu cầu độc lập về việc tuyên Hợp đồng thế chấp số 127 vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm xác định các hợp đồng thế chấp số 126 và 127 vô hiệu nhưng không tuyên việc chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp, không tuyên chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.[5] Từ những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên và một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng Tuyên bố Hợp đồng thế chấp số 126 vô hiệu; tuyên bố Hợp đồng thế chấp số 127 có hiệu lực pháp luật. Trường hợp ông H, bà T không trả nợ hoăc không trả nợ đầy đủ các khoản nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết, Ngân hàng DA có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp của Hợp đồng thế chấp số 127 theo quy định của pháp luật; không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên về việc buộc ông T, bà H pH chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.[6] Về án phí phúc thẩm Kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên nguyên đơn không pH chịu án phí dân sự phúc các lẽ trên;QUYẾT ĐỊNHCăn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh B; chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần DA. Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2021/KDTM-ST ngày 21/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh cứ Điều 92, Điều 146, Điều 108, Điều 109, Điều 121, Điều 122, Điều 128, Điều 135, Điều 137, Điều 342, Điều 351, Điều 355, Điều 216, Điều 217, Điều 223 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 27 và Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Án lệ số 08/2016/ AL ngày 17/10/ cứ Điều 12, Điều 14, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử 1. Buộc ông Tô Văn H và bà Khúc Thị T pH trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần DA tổng số tiền là đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23/4/2021, trong đó có đồng tiền nợ gốc và đồng tiền nợ lãi theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng thương mại cổ phần DA – Chi nhánh B Hợp đồng vay vốn số K0242/1 ngày 22/11/2012, Hợp đồng vay vốn số K0254/1 ngày 08/12/2012; Hợp đồng vay vốn số K0292/1 ngày 27/4/ từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Tô Văn H và bà Khúc Thị T còn pH tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa T toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi T toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần DA - Chi nhánh B đại diện cho vay thì lãi suất mà ông Tô Văn H, bà Khúc Thị T vay pH tiếp tục T toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần DA - Chi nhánh B đại diện cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần DA - Chi nhánh B đại diện cho Không chấp nhận yêu cầu độc lập của cụ Nguyễn Thị H về việc tuyên bố hợp đồng thế chấp số 127/NT/HĐTC ngày 22/11/ 2012 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần DA - Chi nhánh B - Phòng giao dịch Tân Yên với cụ Phạm Đình Trọng, cụ Nguyễn Thị H, ông Phạm Đình Tân, bà Nguyễn Thị Ngọc vô Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 126/NT/HĐTC ngày 22/11/2012 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần DA - Chi nhánh B – Phòng giao dịch Tân Yên với ông Phạm Đình Thưởng, bà Nguyễn Thị H vô Trường hợp ông Tô T H và bà Khúc Thị T không thi hầnh hoặc thi hành không đầy đủ khoản tiền vay và lãi phát sinh tại các Hợp đồng tín dụng Hợp đồng vay vốn số K0242/1 ngày 22/11/2012, Hợp đồng vay vốn số K0254/1 ngày 08/12/2012; Hợp đồng vay vốn số K0292/1 ngày 27/4/2013 đã ký kết với Ngân hàng thương mại cổ phần DA – Chi nhánh B thì Ngân hàng DA có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác số 127/NT- HĐTC ngày 22/11/2012 gọi tắt là HĐTC số 127 giữa cụ Phạm Đình Trọng, cụ Nguyễn Thị H, ông Phạm Đình Tân và bà Nguyễn Thị Ngọc với Ngân hàng thương mại cổ phần DA. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 290, tờ bản đồ số 05, diện tích 838,4m2 tại thôn Tiến Phan 1, xã Nhã Nam nay là thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh B. Đất đã được UBND huyện Tân Yên cấp GCNQSDĐ số AA 046652, số vào sổ 01818 QSDĐ/100/QĐ-CT ngày 23/11/2003 cho hộ ông Phạm Văn Trọng tức Phạm Đình Trọng.Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần DA về việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng diện tích 218,4m2 đất ở tại thửa số 280, tờ bản đồ số 05 địa chỉ thửa đất ở thôn Tiến Phan 1, xã Nhã Nam nay là thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh B và toàn bộ tài sản gắn liền với đất; đất đã được UBND huyện Tân Yên cấp GCNQSDĐ AA 046646, số vào sổ 01830 QSDĐ/100/QĐ-CT ngày 23/11/2003 cho hộ ông Phạm Văn Thưởng tức Phạm Đình Thưởng theo Hợp đồng thế chấp bất động sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác số 126/NT- HĐTC ngày 22/11/ Về chi phí thẩm định tại chỗ Ngân hàng thương mại cổ phần DA pH chịu đồng chi phí thẩm định tại chỗ. Xác nhận Ngân hàng thương mại cổ phần DA đã nộp đủ chi phí thẩm định tài Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩmCụ Nguyễn Thị H được miễn án phí kinh doanh thương mại sơ Nguyễn Thị H không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại cho bà Nguyễn Thị H đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp tại biên lai số AA/2018/ 0006361 ngày 16/ 6/ 2020 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Tô Văn H và bà Khúc Thị T phải chịu đồng án phí kinh doanh thương mại sơ hàng thương mại cổ phần DA phải chịu đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đồng đã nộp tại biên lai số AA/2018/ 0005894 ngày 02/ 8/2019 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Hoàn trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần DA –chi nhánh B đại diện số tiền là đồng đã nộp tại biên lai số AA/2018/ 0005894 ngày 02/ 8/2019 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Về án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩmNgân hàng thương mại cổ phần DA không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần DA số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đồng đã nộp tại biên lại số AA/2020/ 0000279 ngày 29/4/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên ánNguồn Số hiệu242/2006/KDTM-PTTiêu đềBản án tranh chấp hợp đồng tín dụngNgày ban hành21/11/2006Cấp xét xửPhúc thẩmLĩnh vựcKinh tếTÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAOTÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI——————Bản án số242/2006/KDTM-PTNgày 21/11/2006V/v tranh chấp hợp đồng tín dụngCỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc ——————————— DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMTÒA PHÚC THẨMTÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘIVới thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm cóThẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ông Cáp Văn Chinh;Các Thẩm phán Ông Đào Văn Tiến;Ông Nguyễn Huy ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa Ông Phạm Trí Trung, cán bộ Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà 21 tháng 11 năm 2006, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số42/2006/TL-KDTM ngày 14 tháng 8 năm 2006 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa các đương sự* Nguyên đơn Ngân hàng Công thương Việt Nam;Trụ sở 108 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà diện ông Tô Văn Chánh – Giám đốc Ngân hàng Công thương chi nhánh O, được Tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam ủy quyền tham gia tại phiên tòa phúc thẩm.* Bị đơn Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng;Trụ sở 201 phố Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà diện ông Nguyễn Thanh Hùng, được tổng giám đốc Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng ủy quyền tham gia tại phiên tòa phúc luật sư Phan Thị Hương Thủy bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn tại phiên THẤYNgày 07-3-1995, Công ty xuất nhập khẩu sản xuất cung ứng vật tư, bộ Giao thông vận tải nay chuyển đổi là Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng có thư bảo lãnh số 142 cho Chi nhánh Sài Gòn Vietracimex là đơn vị thuộc Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng vay tiền của Chi nhánh ngân hàng Công thương thành phố Hồ Chí Minh thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam. Thư bảo lãnh với số tiền 10 tỷ đồng có tài khoản 710-A00477 tại Ngân hàng Công thương Việt Nam và tài khoản ngoại tệ số 362-111-37-0333 tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Từ sự bảo lãnh này, Chi nhánh Sài Gòn Vietracimex đã lập khế ước vay Ngân hàng như sau1. Ngày 29-7-1995 mở L/C số 0104106/T95LC91 trả chậm một năm không quy định lãi suất, nhưng có phí chuyển tiền với số tiền là USD. Từ ngày 23-8-1996 đến ngày 15-11-1996 đã trả được USD. Đến nay còn nợ gốc Khế ước số 95000634 ngày 02-10-1995 vay số tiền là đồng hai tỷ năm trăm triệu đồng và đã trả lãi trong hạn được Khế ước số 9500034 ngày 29-11-1995 vày đồng ba tỷ đồng. Chưa trả được gốc và lãi quá Khế ước số 9501051 ngày 26-12-1995 vay đồng sáu tỷ ba trăm bảy lăm triệu đồng, hợp đồng ngoại tệ còn nợ 15-4-1997 Ngân hàng Nhà nước có công văn số 109 và ngày 26-4-1997 Ngân hàng Công thương Việt Nam có công văn số 867 cho Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng được khoanh nợ 5 năm là được trừ lãi đã thu vào gốc là đồng, Như vậy, tổng số tiền mà phía bị đơn đã trả được đồng tiền gốc. Còn nợ gốc sau khoanh nợ là đồng và thời gian khoanh nợ, ngày 02-02-2004 Ngân hàng Công thương đã đến Chi nhánh Sài Gòn Vietracimex lập biên bản nhận nợ và hai bên đã xác nhận với nhau Sài Gòn Vietracimex còn nợ Ngân hàng là đồng tiền gốc và đồng tiền lãi quá hạn. Về ngoại tệ nợ gốc USD, lãi nợ quá hạn đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án Hà Nội, nguyên đơn đều yêu cầu Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng là người bảo lãnh cho chi nhánh Sài Gòn Vietracimex vay số tiền trên của Ngân hàng từ năm 1995 đến nay chưa thanh toán phải có trách nhiệm thanh toán cho phía ngân hàng toàn bộ tiền gốc và lãi quá bị đơn ông Vũ Đức Toàn đại diện cho Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng trình bày ông nhất trí với lời khai của ông Đặng Đình Dũng – Giám đốc chi nhánh Sài Gòn Vietracimex đã trình bày tại Tòa án Hà Nội và xác nhận số nợ của chi nhánh Sài Gòn tại biên bản đối chất và hòa giải không thành ngày 07-9-2004. Trước kia Tổng công ty có thư bảo lãnh cho chi nhánh vay tiền của Ngân hàng Công thương, đã trả được một số và đã trả được khoanh nợ 5 năm, đến nay còn nợ đồng Việt Nam và USD và lãi suất quá hạn. Nhưng nay Tổng công ty không chấp nhận trả lãi, đề nghị Ngân hàng xem xét vì số tiền này Công ty đã bị một số cán bộ gây thất thoát, đã bị xét xử theo pháp luật và đến nay chưa bồi thường cho Công ty nên Công ty chưa có thể trả lại cho Ngân hàng và đề nghị Ngân hàng xem xét lãi suất quá trình giải quyết vụ kiện bị đơn chuyển đổi thành doanh nghiệp cổ phần hóa. Vì thế ngày 24-01-2005 Tòa án Hà Nội ra quyết định tạm đình chỉ số 02 với lý do chờ kết quả cơ quan khác giải quyết rồi mới giải quyết khi Tòa án Hà Nội có quyết định tạm đình chỉ ngày 27-01-2005 Ngân hàng Công thương Việt Nam đã kháng 22-02-2006, Ngân hàng Công thương Việt Nam có đơn xin rút kháng cáo tại Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà 06-3-2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm và giao hồ sơ về Tòa án Hà Nội giải quyết tiếp việc kiện. Ngày 16-3-2006 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã thụ lý giải quyết tiếp vụ kiện bản án sơ thẩm số46/2006/KDTM-ST, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết địnhCăn cứ các Điều 29, 58, 60, 131, 245 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004,Căn cứ các Điều 361, 362, 388 Bộ luật dân sự năm 2005,Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 60 Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004 và NĐ 70/CP của Chính phủ quy định án phí, xử1. Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Công thương Việt Buộc Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng Vietracimex có trách nhiệm thanh toán trả Ngân hàng Công thương Việt Nam, toàn bộ tiền gốc và lãi quá hạn còn nợ trong các hợp đồng tín dụng tổng cộng là đồng mười tỷ bảy trăm tám ba triệu một trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi hai đồng.Sau khi án có hiệu lực pháp luật, bên thanh toán chưa trả thì phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định của pháp Bác các yêu cầu khác của các đương án phí Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm là đồng ba mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn một trăm ba mươi ba đồng.Tòa án cấp sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp 19-6-2006 người đại diện Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng là ông Võ Nhật Thắng kháng cáo cho rằng quyết định của bản án sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết của vụ án, không đúng pháp luật, đề nghị xem xét toàn bộ vụ án sơ 20-6-2006 người đại diện Ngân hàng Công thương Việt Nam là ông Tô Văn Chánh kháng cáo cho rằng cách tính số tiền lãi trong phần quyết định của bản án sơ thẩm là không đúng với các quy định pháp luật về tín dụng, đề nghị xem xét THẤYBản án dân sự số 46 ngày 2, 5 tháng 6 năm 2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Công thương Việt Nam và Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng là dựa trên cơ sở chứng cứ. Có việc hai bên ký kết các hợp đồng tín dụng được lập dưới hình thức khế ước nhận nợ, gồm 03 khế Khế ước số 9500634 ngày 02-10-1995 số tiền vay nợ là 2,5 tỷ đồng. Đã trả được 625 triệu đồng còn nợ 1,875 tỷ Khế ước nhận nợ số 9500934 số tiền là 3 tỷ đồng chưa trả.3. Khế ước số 9501051 ngày 26-12-1995 số tiền là 1,5 tỷ đồng chưa trả.Ngoài ra 03 khế ước nhận nợ trên còn một khoản nợ của thư tín dụng là USD đã trả USD còn nợ đối chiếu các khoản nợ nêu trên đã được hai bên bàn bạc và thống nhất với nhau trong các buổi làm việc được lập thành biên bản có trong hồ sơ. Và tại các biên bản hòa giải không thành cũng đều có ghi rõ các khoản nợ đó. Từ đó mà Hội đồng xét xử sơ thẩm đã quyết định buộc bị đơn phải thanh toán trả nguyên đơn khoản tiền còn nợ cả gốc và phiên tòa phúc thẩm hôm nay phía bị đơn đã phản bác lại quyết đinh của án sơ thẩm cụ thể những vấn đề sauThứ nhất là về chủ thể trong quan hệ dân sự phía bị đơn cho rằng các văn bản bảo lãnh của Tổng công ty chỉ bảo lãnh cho đến hết thời hạn khi mà công ty đã chuyển sang hợp nhất là ngày 27-11-1995. Còn các khế ước ký sau ngày đó là không có hiệu đề nữa là đối với việc bảo lãnh thư tín dụng không thuộc trong diện bảo lãnh của văn bản bảo lãnh 142 của Tổng công ty đối với chi nhánh, cho nên Tổng công ty không chịu trách thấy trong quan hệ về việc dân sự trong vụ án này giữa Tổng công ty và công ty chi nhánh phải được xét theo nguyên tắc thực hiện của Luật Doanh nghiệp năm 1995. Luật có hiệu lực từ Điều 19 của luật có quy định – chi nhánh của doanh nghiệp Nhà nước không có tư cách pháp nhân, doanh nghiệp Nhà nước chịu trách nhiệm dân sự đối với chi nhánh của doanh thì mọi quy định của Tổng công ty đối với chi nhánh mà trái với quy định của điều luật đều không được pháp luật thừa nhận – mà chỉ có giá trị trong nội bộ của Tổng công ty mà thôi. Đối chiếu với trường hợp cụ thể này thì Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng là bị đơn trong vụ án này phải chịu trách nhiệm dân sự với mọi trường hợp của chi nhánh trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh của mình, còn mọi quy định về trách nhiệm mà chi nhánh làm sai thì chi nhánh chịu trách nhiệm đối với Tổng công phân tích trên thấy án sơ thẩm xác định Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng phải chịu trách nhiệm trả nợ gốc đối với Ngân hàng Công thương chi nhánh I thành phố Hồ Chí Minh về cả 03 khế ước và khoản nợ theo thư tín dụng là đúng vì các khế ước và thư tín dụng đều được lập kể từ sau ngày Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1999 có hiệu lực thi việc quy định tại Điều 19 của Luật doanh nghiệp Nhà nước đã viện dẫn ở trên thì nay Tổng công ty đã tiến hành cổ phần hóa thì Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng cũng vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ trên vì tại Điều 8 Nghị đình số 187/2004 ngày 16 tháng 11 năm 2004 về việc chuyển công ty Nhà nước thành Công ty cổ phần của Chính phủ có quy định tại Điều 8 Nguyên tắc kế thừa quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần được chuyển đổi từ Công ty Nhà nước“1. …2. Công ty cổ phần được chủ động sử dụng toàn bộ tài sản, tiền vốn đã cổ phần hóa để tổ chức sản xuất, kinh doanh kế thừa mọi quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm của Công ty Nhà nước trước khi cổ phần hóa và có các quyền nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.”Thứ hai xét về nội dung để quy kết có trách nhiệm trả nợ thì thấyTại phiên tòa cũng như những chứng cứ mà phía bị đơn xuất trình đều đã được xem xét tại phiên tòa. Cụ thể các khế ước nhận nợ là đều có, có việc chi nhánh đã nhận tiền vay bằng séc. Sau đó nhập về quỹ của Công ty và tiếp đó chuyển về Ngân hàng Công thương chi nhánh IV. Tiếp đó chuyển trả nợ vay về Ngân hàng Công thương chi nhánh I, nhưng tất cả số tiền chuyển trả theo cách lập phiếu ủy nhiệm chi, nhưng là chuyển trả vào khoản nợ vay trước đó. Cụ thể khi vay thì vay từ tài khoản có ký hiệu …B, khi trả thì chuyển về tài khoản có ký hiệu …A, hai tài khoản này khác nhau nên không được coi là đã trả nợ xong, vì trên thực tế thì chi nhánh còn nợ Ngân hàng Công thương chi nhánh I nhiều món nợ trước đó chưa trả. Vì theo nghiệp vụ ngân hàng quy định mỗi khế ước vay đều có mã số tài khoản của khế ước đó nên khi vay ở khế ước nào thì khi trả phải trả đúng vào khế ước đó mới được công nhận là có khoản thanh toán khoản tiền nợ mở thư tín dụngXem xét trên thực tế thì Ngân hàng đã thanh toán trả chủ hàng Hàn Quốc toàn bộ số tiền theo như hợp đồng. Còn phía Chi nhánh Sài Gòn Vietracimex mới thanh toán trả về cho Ngân hàng 03 phiếu theo như Ngân hàng đã xuất trình. Nay phía bị đơn chỉ chứng minh được mới chuyển trả tiền về đến Ngân hàng Công thương IV nhưng cũng vẫn chưa đủ, nên không có căn cứ là đã thanh toán xong mà chỉ có căn cứ như án sơ thẩm đã quyết về khoản nợ này là chính cứ vào việc chứng minh rằng những chứng cứ mà phía nguyên đơn xuất trình thì thấy việc thừa nhận của bị đơn trước đây trong quá trình xây dựng hồ sơ trong các lời khai và trong các buổi hòa giải đều thừa nhận là còn nợ các khoản tiền theo như án sơ thẩm đã quy kết là hoàn toàn khoản tiền lãi bản án sơ thẩm đã căn cứ vào đề nghị của phía nguyên đơn trên cơ sở tại các đơn khởi kiện và các văn bản mà phía ngân hàng đã dựa trên cơ sở quy định của Ngân hàng Nhà nước để tính mức lãi suất là có căn cứ nay phía Ngân hàng đề nghị được tính với mức lãi suất cao hơn theo một mức như ở tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm là không thể chấp nhận được mà cần giữ nguyên khoản tiền lãi như án sơ thẩm đã quyết các lẽ trên,Căn cứ vào khoản 3 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân ĐỊNHKhông chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn và đơn kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.– Căn cứ các Điều 29, 58, 60, 131, 245 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.– Căn cứ các Điều 361, 362, 363, 388 Bộ luật dân sự năm 2005.– Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 60 Luật tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004 và Nghị định 70 của Chính phủ quy định về án Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Công thương Việt Buộc Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng Vietracimex có trách nhiệm thanh toán trả Ngân hàng Công thương Việt Nam toàn bộ số tiền gốc và lãi quá hạn còn nợ trong các hợp đồng tín dụng, tổng cộng là đồng mười tỷ bảy trăm tám mươi ba triệu một trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi hai đồng.Kể từ ngày bản có có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong bản án tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi Bác các yêu cầu khác của các đương án phí Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm là đồng ba mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn một trăm ba mươi ba đồng.Ngân hàng Công thương Việt Nam được lấy lại dự phí kháng cáo đã nộp đồng Mười lăm triệu đồng tại tài khoản số kho bạc Hà Nội của Phòng thi hành án dân sự Hà đương sự kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí phúc thẩm dân sự kinh tế mỗi đương sự là đồng. Được trừ vào khoản tiền dự phí kháng cáo đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 007395 ngày 26-6-2006 và biên lai số 007389 ngày 19-6-2006 của Phòng thi hành án thành phố Hà án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên nhận– TAND thành phố Hà Nội– VKSNDTC Viện PT1– VKSND thành phố Hà Nội– CQTHADS Hà Nội– Nguyên đơn theo đ/c– Bị đơn theo đ/c– Lưu 2b ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨMTHẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒACáp Văn ChinhĐã ký TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN BẢN ÁN 02/2020/KDTM-ST NGÀY 21/04/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG Ngày 21 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2019/TLST-KDTM ngày 08 tháng 10 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐST-DS ngày 07/02/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2020/QĐST-DS ngày 27/02/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2020/QĐST-DS ngày 13/3/2020, Thông báo thay đổi thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa số 01/TB-TA ngày 01/4/2020giữa các đương sự1. Nguyên đơn Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chỉ Số 02 L, phường T, quận B, thành phố đại diện theo pháp luật Ông Trịnh Ngọc Kh-Chủ tịch Hội đồng thành đại diện theo ủy quyền Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963-Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V-Chi nhánh huyện P, tỉnh H.Quyết định ủy quyền số 510/QĐ-HĐTV-PC ngày 19/6/2014 của Chủ tịch Hội đồng thành viên Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V.Người được ủy quyền lại Ông Lương Thế Th, sinh năm 1977- Phó giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V-Chi nhánh huyện P, tỉnh H. Quyết định ủy quyền số 01/NHNo-PC/UQKK ngày 19/7/2019 của Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V-Chi nhánh huyện P, tỉnh H- Có chỉ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V-Chi nhánh huyện P, tỉnh H thôn C, thị trấn Tr, huyện P, tỉnh Bị đơn Ông Quách Văn H, sinh năm đăng ký hộ khẩu thường trú thôn V, xã Q, huyện P, tỉnh H. Địa chỉ thôn Q, xã QH, huyện P, tỉnh Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện cho bị đơn theo ủy quyền Bà Trịnh Thị Đ, sinh năm 1970-Có mặt. Văn bản ủy quyền ngày 10/01/2020.Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thôn V, xã Q, huyện P, tỉnh H. Địa chỉ thôn Q, xã QH, huyện P, tỉnh DUNG VỤ ÁNTheo đơn khởi kiện và quá trình điều tra nguyên đơn trình bầyNgày 04/10/2017, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V Sau đây viết tắt là ngân hàng cho Ông Quách Văn H, Bà Trịnh Thị Đ vay số tiền là đồng, thể hiện tại hợp đồng tín dụng số 2411/LAV 201701548 ngày 04/10/2017. Mục đích vay để kinh doanh bánh kẹo, đường sữa, hàng tạp hóa. Lãi suất cho vay là 08%/năm, lãi suất chậm trả là 10%. Thời hạn cho vay là 12 tháng. Đến ngày 05/10/2017, ngân hàng đã giải ngân cho ông H, bà Đđủ số tiền vay là đồng, thể hiện tại Giấy nhận nợ ngày 05/10/2017. Hợp đồng được bảo đảm bằng tài sản chung của ông H và bà Đthể hiện tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 012017/QVHOAT ngày 04/10/2017. Hợp đồng thế chấp đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật. Theo hợp đồng thế chấp này, ông H, bà Đdùng tài sản là toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 20 tờ bản đồ số 13 ở thôn Q, xã Q, huyện P, tỉnh H, đất đã được UBND huyện P, tỉnh Hcấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/4/2006 để bảo đảm cho khoản tiền vay theo hợp đồng tín dụng. Sau khi vay, ông H, bà Đ không thực hiện được việc thanh toán số tiền vay như hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, khoản vay đã chuyển thành nợ quá hạn kế từ ngày 05/8/2018. Ông H, bà Đ mới trả ngân hàng được số tiền lãi trong hạn là đồng. Đến thời hạn trả nợ, ông H, bà Đ không trả được nợ, ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông H, bà Đ không thực hiện. Do vậy ngân hàng khởi kiện, yêu cầu buộc ông H, bà Đ phải trả nợ cho ngân hàng, gồm Toàn bộ số tiền nợ gốc là đồng và tiền lãi gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 21/4/2020 là đồng. Kể từ ngày xét xử sơ thẩm nếu ông H, bà Đ không trả được số tiền nợ gốc thì còn phải chịu lãi suất quá hạn theo mức lãi suất như hợp đồng đối với số nợ gốc chưa trả cho đến khi trả ông H, bà Đ không trả được nợ cho ngân hàng thì đề nghị xử lý, phát mại tài sản thế chấp của ông H, bà Đ để ngân hàng thu hồi nợ theo như hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 012017/QVHOAT ngày 04/10/2017 là toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 20 tờ bản đồ số 13 ở thôn Q, xã QH, huyện P, tỉnh hợp phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông H, bà Đphải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ các khoản nợ cho ngân ra ngân hàng không còn yêu cầu khởi kiện nào khác. Ông Quách Văn H và Bà Trịnh Thị Đ trình bày Ngày 04/10/2017, ông H, bà Đ vay của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V-Chi nhánh huyện P, tỉnh Hsố tiền nợ gốc là đồng, mục đích vay là để hộ gia đình ông, bà kinh doanh hàng tạp hóa, thời hạn vay là 12 tháng. Lãi suất vay là 08%/năm, ngoài ra hợp đồng tín dụng còn quy định về lãi suất trong hạn và quá hạn. Việc vay mượn này là do cả hai vợ chồng cùng thống 05/10/2017, ông H, bà Đđã nhận đủ số tiền vay là đồng, thể hiện tại Giấy nhận nợ ngày 05/10/ bảo đảm cho khoản tiền vay theo hợp đồng tín dụng này, ông H, bà Đ đã ký với ngân hàng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 012017/QVHOAT ngày 04/10/2017. Hợp đồng thế chấp đều đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật. Theo hợp đồng thế chấp này, ông H, bà Đ dùng tài sản là toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 20 tờ bản đồ số 13 ở thôn Q, xã Q, huyện P, tỉnh H, đất đã được UBND huyện P, tỉnh H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/4/2006 mang tên Quách Văn H để bảo đảm cho khoản tiền vay. Hiện tại ông H, bà Đ đang quản lý, sử dụng toàn bộ khối tài sản thế chấp này, trên đất không có tài sản gì và không có tranh chấp với H, bà Đ khẳng định vẫn nợ ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc là đồng, ông H, bà Đ mới trả được cho ngân hàng được một số tiền lãi, cụ thể không nhớ là bao nhiêu, nhưng như ngân hàng tính toán là chính xác. Ông H, bà Đnhất trí về số nợ gốc và lãi như ngân hàng đã tính toán, không thắc mắc yêu cầu khởi kiện của ngân hàng, quan điểm của ông H, bà Đnhư sau Ông H, bà Đ khẳng định việc ngân hàng khởi kiện đòi số tiền gốc đồng, lãi, lãi chậm trả như ngân hàng tính toán là đúng. Ông H, bà Đ sẽ có trách nhiệm trả ngân hàng toàn bộ số nợ gốc này nhưng do đang khó khăn nên đề nghị ngân hàng cho trả dần. Đối với số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả ông H, bà Đ đề nghị ngân hàng cho xin toàn bộ số lãi này do đang khó yêu cầu xử lý tài sản thế chấp Ông H, bà Đ đề nghị ngân hàng cho thu xếp để trả nợ cho ngân hàng, trường hợp không trả được nợ cho ngân hàng thì nhất trí để ngân hàng phát mại tài sản thế chấp như đã thỏa thuận trong hợp đồng để ngân hàng thu hồi H, bà Đ đã được Tòa án cho xem hợp đồng tín dụng ngày 04/10/2017, giấy nhận nợ ngày 05/10/2017, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất 012017/QVHOAT ngày 04/10/2017 và Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 04/10/2017. Ông H, bà Đ khẳng định chữ ký và chữ viết ở phần bên vay, bên thế chấp trong tất cả các văn bản này đúng là chữ ký và chữ viết của Ông Quách Văn H và Bà Trịnh Thị H, bà Đ đã được Tòa án thông báo kết quả thẩm định tài sản thế chấp cho ngân hàng, ông H, bà Đ nhất trí không có ý kiến ra ông H, bà Đ không còn trình bầy gì phiên tòa Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là đại diện theo ủy quyền của ông H trình bầy số tiền vay là sử dụng chung của ông H với bà Đ, đại diện ngân hàng yêu cầu bà Đ cũng phải trả nợ cho ngân diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự Các đương sự đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ việc giải quyết vụ án Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xửXác định quan hệ tranh chấp là Tranh chấp về hợp đồng tín dụng khoản 1 Điều 275, các điều 463, 466, 468, 357, 292, 293, 307, 317, 318, 319, 320 và 322 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12 của Luật ngân hàng nhà nước; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng. Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 3; 6; khoản 2 Điều 26; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn ông H, bà Đ phải trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V toàn bộ số tiền nợ gốc là đồng và các khoản lãi gồm tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn như ngân hàng yêu ông H, bà Đ không trả được nợ thì phát mại tài sản thế chấp là toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 20 tờ bản đồ số 13 ở thôn Q, xã QH, huyện P, tỉnh H để ngân hàng thu hồi nợ. Trường hợp phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông H, bà Đ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ các khoản nợ cho ngân án phí Ông H, bà Đ phải chịu án phí sơ thẩm dân ĐỊNH CỦA TÒA ÁNSau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định[1]. Ngày 04/10/2017, ngân hàng cho ông H, bà Đ vay số tiền là đồng, thể hiện tại hợp đồng tín dụng số 2411/LAV 201701548 ngày 04/10/2017. Mục đích vay để kinh doanh bánh kẹo, đường sữa, hàng tạp hóa. Lãi suất cho vay là 08%/năm, lãi suất chậm trả là 10%/năm. Thời hạn cho vay là 12 tháng. Đến ngày 05/10/2017, ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay là đồng, thể hiện tại Giấy nhận nợ ngày 05/10/2017. Hợp đồng tín dụng được bảo đảm bằng tài sản chung của ông H và bà Đthể hiện tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 012017/QVHOAT ngày 04/10/2017. Hợp đồng thế chấp đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp thời hạn trả nợ, ông H, bà Đ không thực hiện được việc thanh toán số tiền vay như hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, khoản vay đã chuyển thành nợ quá hạn kế từ ngày 05/8/2018. Ông H, bà Đ mới trả ngân hàng được số tiền lãi trong hạn là đồng. Ông H còn nợ ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc là đồng và tiền lãi gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là hàng khởi kiện, yêu cầu buộc ông H, bà Đ phải trả nợ cho ngân hàng, gồm Toàn bộ số tiền nợ gốc là đồng và tiền lãi gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là đồng. Đồng thời yêu cầu kể từ ngày xét xử sơ thẩm nếu ông H, bà Đ không trả được số tiền nợ gốc thì ông H, bà Đ còn phải chịu lãi suất quá hạn theo mức lãi suất như hợp đồng đối với số nợ gốc chưa trả cho đến khi trả ông H, bà Đ không trả được nợ cho ngân hàng thì đề nghị xử lý, phát mại tài sản thế chấp của ông H, bà Đ để ngân hàng thu hồi nợ theo như hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 012017/QVHOAT ngày 04/10/2017 là toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 20 tờ bản đồ số 13 ở thôn Q, xã QH, huyện P, tỉnh hợp phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông H, bà Đ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ các khoản nợ cho ngân ra ngân hàng không còn yêu cầu khởi kiện nào giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng thừa nhận còn nợ gốc là đồng và các khoản lãi như nguyên đơn tính toán nhưng do khó khăn nên đề nghị ngân hàng cho trả dần số tiền nợ gốc và xin toàn bộ số tiền lãi nhưng ngân hàng không đồng đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quan điểm nhất trí phát mại tài sản là bộ diện tích đất tại thửa đất số 20 tờ bản đồ số 13 ở thôn Q, xã QH, huyện P, tỉnh H là tài sản của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để ngân hàng thu hồi ra nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nào khác.[2]. Xét hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng với ông H, bà Đ, Hội đồng xét xử nhận định Hai bên đều thừa nhận các nội dung của hợp đồng nên xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng, bên vay sử dụng vào mục đích nhằm thu lợi nhuận. Do vậy quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật các tổ chức tín dụng. Hợp đồng các bên đã ký là phù hợp các quy định của pháp với hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của bên vay với ngân hàng diện tích đất tại thửa đất số 20 tờ bản đồ số 13 ở thôn Q, xã QH, huyện P, tỉnh H là tài sản thuộc sở hữu của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các bên giao kết hợp đồng phù hợp với các quy định tại các Điều 292, 293, 298, 317, 318, 319 của Bộ luật dân sự năm 2015, sau khi ký kết hợp đồng, các bên đã thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm và hiện tại không có tranh chấp gì về hợp đồng thế chấp này. Do vậy hợp đồng thế chấp là phù hợp với các quy định của pháp luật.[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của ngân hàng, Hội đồng xét xử nhận địnhTừ các chứng cứ đã thu thập được có đủ căn cứ xác định Ngày 04/10/2017, ông H, bà Đ vay của ngân hàng số tiền là đồng. Cho đến nay mới trả được số tiền lãi trong hạn là đồng. Như vậy ông H, bà Đ còn nợ số tiền nợ gốc là đồng và tiền lãi chưa trả là tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm số nợ gốc và lãi ông H, bà Đ còn nợ ngân hàng phải trả tạm tính đến ngày 21/4/2020 là đồng. Ông H, bà Đ cũng thừa nhận số tiền nợ gốc như yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị miễn, giảm lãi nhưng nguyên đơn không đồng ý và đây cũng là mức lãi suất đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng nên cần chấp nhận mức lãi theo thỏa thuận của các bên. Theo hợp đồng tín dụng thì người đứng tên vay là ông H nhưng đây là khoản vay để vợ chồng sử dụng chung, Bà Đ cũng xác định đây là khoản vay chung của vợ chồng nên xác định nghĩa vụ trả nợ ngân hàng là của ông H và bà đồng thế chấp của ông H, bà Đ với ngân hàng để bảo đảm khoản vay cho ông H, bà Đ được các bên giao kết phù hợp với các quy định pháp luật, sau khi ký kết hợp đồng, các bên đã thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm và hiện tại không có tranh chấp gì về hợp đồng thế chấp này. Do vậy hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật, các bên phải tuân thủ theo thỏa thuận trong hợp đồng nên nếu ông H, bà Đ không trả được nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp của bên thế chấp để thu hồi vậy căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 275, các điều 463, 466, 468, 357, 292, 293, 298, 307, 317, 318, 319, 320 và 322 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12 của Luật ngân hàng nhà nước; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử nhận định cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông H, bà Đ phải trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ gốc là đồng và các khoản lãi gồm tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, tạm tính từ ngày đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 21/4/2020 là từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp hợp ông H, bà Đ không trả được nợ cho ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan pháp luật có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp của ông H, bà Đ là 100m2 đất ở tại thửa đất số 20 tờ bản đồ số 13 ở thôn Q, xã QH, huyện P, tỉnh Hđể ngân hàng thu hồi nợ. Trường hợp phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông H, bà Đ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ các khoản nợ cho ngân hàng. Hiện ông H, bà Đ đang quản lý, sử dụng các tài sản này.[4]. Về án phí Nguyên đơn khởi kiện được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân H, bà Đ phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa vấn đề khác Hội đồng xét xử không xét. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNHÁp dụng 1 Điều 275, các điều 463, 466, 468, 357, 292, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 322 và 323 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12 của Luật ngân hàng nhà nước; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng. Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 3, 6, khoản 2 Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn ông Quách Văn H và bà Trịnh Thị Đ phải trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V toàn bộ số tiền gồmToàn bộ số tiền nợ gốc là đồng Sáu trăm triệu đồng.Tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 21/4/2020 là số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 21/4/2020 ông Quách Văn H và bà Trịnh Thị Đ phải trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V là đồng Bẩy trăm sáu mươi sáu triệu sáu trăm mười bẩy nghìn bốn trăm chín mươi đồng.Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp hợp ông Quách Văn H, bà Trịnh Thị Đ không trả được nợ thì Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp của Ông Quách Văn H và bà Trịnh Thị Đ là 100m2 đất ở tại thửa đất số 20 tờ bản đồ số 13 ở thôn Q, xã QH, huyện P, tỉnh H mang tên ông Quách Văn H theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 012017/QVHOAT ngày 04/10/2017, hợp đồng thế chấp đã được đăng ký Giao dịch bảo đảm ngày 04/10/2017 để ngân hàng thu hồi Quách Văn H và bà Trịnh Thị Đ đang quản lý, sử dụng tài sản này. Có sơ đồ kèm theo Trường hợp phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Quách Văn H và bà Trịnh Thị Đ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ các khoản nợ cho ngân án phí Ông Quách Văn H và bà Trịnh Thị Đ phải chịu đồng Ba mươi tư triệu sáu trăm sáu mươi tư nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng tiền án phí sơ thẩm kinh doanh thương trả lại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V số tiền đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 005884 ngày 08/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh vấn đề khác Hội đồng xét xử không hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân kháng cáo Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ

bình luận bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng